Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về kiệt quệ tài chính: 2. Khung lý thuyết về kiệt quệ tài chính: Kiệt quệ tài chính được xác định như là một sự “bất lực” của một công ty trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính của chính mình.
Theo Andrade và Kaplan (1998) xác định hai hình thức kiệt quệ tài chính: hình thức đầu tiên là mặc định trong thanh toán nợ và hình thức thứ hai là cố gắng cơ cấu lại khoản nợ để ngăn chặn tình trạng vỡ nợ. Khía cạnh thứ nhất, một công ty kiệt quệ tài chính khi bỏ lỡ các khoản thanh toán lãi hoặc vi phạm các giao ước nợ. Định nghĩa này phân biệt rõ ràng tình trạng kiệt quệ tài chính với sự phá sản: Một công ty có thể kiệt quệ mà không mặc định phá sản. Tuy nhiên, phá sản là không xảy ra thể nếu không có giai đoạn kiệt quệ tài chính trước đó.
Còn xét về khía cạnh thứ hai là cố gắng cơ cấu lại khoản nợ để ngăn chặn tình trạng vỡ nợ thì: Purnanandam (2005) đồng điệu với nghiên cứu của Gilbert (1990) cho thấy tình trạng kiệt quệ tài chính có đặc điểm tài chính khác với phá sản: Kiệt quệ tài chính được đặc trưng bởi thu nhập tích lũy âm trong ít nhất một hoặc một vài năm liên tiếp, thua lỗ và hiệu suất kém. Còn phá sản là một trong những kết quả có thể xảy ra của tình trạng kiệt quệ tài chính. Ở nghiên cứu khác của Whitaker (1999) sử dụng thước đo dòng tiền và giá trị thị trường của công ty để xác định khi nào một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Kiệt quệ tài chính được định nghĩa là một tình huống khi một công ty không có đủ dòng tiền để trang trải các nghĩa vụ của mình và làm giảm giá trị thị trường của nó.
Tóm lại kiệt quệ tài chính (Financial Distress) xảy ra khi doanh nghiệp không đáp ứng được các hứa hẹn với chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản, đôi khi nó chỉ có nghĩa là công ty đang gặp khó khăn, rắc rối về tài chính. Tuy nhiên một công ty đã phá sản thì chắc chắn đã trải qua tình trạng kiệt quệ tài chính. Theo đó, các trạng thái của kiệt quệ tài chính bao gồm: thất bại, mất khả năng thanh khoản, vỡ nợ, phá sản và giải thể.
Tuy nhiên, trong thực tế những trạng thái này rất khó có 7 thể quan sát thấy (Hashi, 1997). Do hạn chế trong dữ liệu sẵn có nên quan điểm về kiệt quệ tài chính có sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu. Các quan điểm về kiệt quệ tài chính: Như đã đề cập ở trên, do hạn chế trong dữ liệu sẵn có cũng như tính đa dạng và phức tạp về các hình thức khó khăn của doanh nghiệp, việc không có ranh giới rõ ràng của các giai đoạn kiệt quệ tài chính làm cho các quan điểm về kiệt quệ tài chính có sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu (Wruck, 1990). Vì vậy, việc làm rõ các quan điểm về kiệt quệ tài chính để tìm ra một quan điểm kiệt quệ tài chính phù hợp nhất là rất cần thiết.
Theo Atlman và Hotckis (2005), các doanh nghiệp lâm vào kiệt quệ tài chính có thể được xác định thông qua các giai đoạn khó khăn mà họ trải qua. Có bốn giai đoạn khái quát được phát hiện trong các tài liệu nghiên cứu về kiệt quệ tài chính để phân biệt một doanh nghiệp là kiệt quệ tài chính đó là: thất bại (Failure), mất thanh khoản (Insolvency), vỡ nợ (Default) và phá sản (Bankruptcy). Theo quan điểm của tác giả trong luận văn này các công ty kiệt quệ tài chính ít nhất cần phải bước vào giai đoạn thứ hai “mất khả năng thanh khoản”, với dấu hiệu nhận biết sau: Lợi nhuận trước thuế, lãi vay (EBIT) thấp hơn chi phí tài chính trong hai năm liên tiếp Trường hợp doanh nghiệp bước vào giai đoạn thứ 3 của kiệt quệ tài chính – giai đoạn “vỡ nợ, phá sản”, thì doanh nghiệp sẽ có những biểu hiện cụ thể như: + Công ty làm thủ tục phá sản do thua lỗ kéo dài; + Bị huỷ niêm yết bắt buộc trên sàn giao dịch. Các giai đoạn của trạng thái kiệt quệ tài chính trong doanh nghiệp Biểu hiện STT Giai đoạn Đặc tính nhận biết - Tình trạng bắt gặp: Tỷ suất sinh lợi cổ - Whitaker (1999): phiếu của doanh nghiệp bị âm, doanh Năm đầu tiên dòng Thất bại nghiệp bị kiểm soát hay hủy niêm yết tiền của doanh 1.
(Failure) trên thị trường chứng khoán, doanh nghiệp thấp hơn nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ làm khoản nợ dài hạn đã mất cân đối tài sản, doanh nghiệp phải đến hạn. 8 tiến hành dàn xếp với chủ nợ hoặc đang - Andrade và Kaplan trong quá trình phải thanh lý công ty. (1998): Năm đầu - Andrade và Kaplan (1998) đã phân tiên mà EAT âm. Ở chia thất bại thành hai trường hợp: giai đoạn này, nếu + Thất bại do hoạt động kinh doanh doanh nghiệp không không hiệu quả: tỷ suất sinh lợi thực tế có giải pháp vượt trên vốn đầu tư và các thước đo tỷ suất qua khó khăn, tình sinh lợi khác thấp hơn giá trị trung bình hình sức khỏe của của các nhà đầu tư tương đương trên thị doanh nghiệp càng trường, hoặc doanh thu không đủ bù trở nên nghiêm trọng đắp chi phí của doanh nghiệp (Altman và có thể dẫn đến và Hotchkiss, 2006).
mất khả năng thanh + Thất bại do doanh nghiệp không có khoản. khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính: Wruck (1990) cho rằng một doanh nghiệp được xác định là thất bại khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng nghĩa vụ tài chính hiện tại. - Tình trạng bắt gặp: Doanh nghiệp có - Thu nhập trước thu nhập hoạt động bị âm và hiện giá thuế, lãi vay (EBIT) dòng tiền của doanh nghiệp ít hơn tổng thấp hơn chi phí lãi Mất thanh giá trị các nghĩa vụ tài chính (Altman, vay trong hai năm 2. khoản 1983; Keating cùng cộng sự, 2005); liên tiếp (Joseph (Insolvency) Doanh nghiệp bán tài sản và tái phân P.Fan, Jun Huang phối thu nhập cho các chủ nợ hay là và, Ning Zhu, 2013).
phải thực hiện thanh lý công ty vì mất - Doanh nghiệp có khả năng thanh khoản (Wruck, 1990). thu nhập trước thuế, 9 - Wruck, Ross và cộng sự (2003) chia lãi vay và khấu hao trạng thái mất thanh khoản thành hai (EBITDA) thấp hơn trường hợp: chi phí tài chính + Mất thanh khoản do giá trị: Giá trị thị trong hai năm liên trường các tài sản của doanh nghiệp là tiếp. thấp hơn so với giá trị của các khoản nợ. - Có sự sụt giảm + Mất thanh khoản do dòng tiền: Doanh trong giá trị thị nghiệp không tạo ra đủ dòng tiền để trường và EAT âm thực hiện các nghĩa vụ tài chính hiện tại trong hai năm liên theo hợp đồng.
mình, giá trị thị trường của các tài sản doanh nghiệp bị sụt giảm và thấp hơn giá trị các khoản nợ. Vì vậy, mất khả năng thanh khoản là một giai đoạn của kiệt quệ tài chính nhưng ở mức độ nghiêm trọng hơn so với thất bại và chưa đến mức phá sản. - Tình trạng bắt gặp: Theo Altman và - Doanh nghiệp Hotchkiss (2005), vỡ nợ là tình trạng thường xuyên thua doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc lỗ trong hoạt động Vỡ nợ và lãi vay cho chủ nợ khi đến hạn và do kinh doanh (Altman 3. dụng, dẫn đến các hành động pháp lý.
- Doanh nghiệp nộp - Gilson và cộng sự (1990); Altman và đơn xin phá sản; Hotchkiss (2005) chia vỡ nợ ra thành 10 hai trạng thái: vỡ nợ thanh toán do - Doanh nghiệp bị không thể trả được nợ gốc và lãi đến tuyên bố phá sản tự hạn; vỡ nợ kỹ thuật do doanh nghiệp vi nguyện hay bắt buộc phạm các điều khoản trong hợp đồng tín theo luật định; dụng. - Doanh nghiệp bị Tình trạng bắt gặp: Một doanh nghiệp đình chỉ niêm yết nộp đơn cho tòa án để tuyên bố phá sản; trong ba năm; Doanh nghiệp không thể hoàn thành (Christidis và Phá sản 4. hợp đồng tín dụng theo lịch trình để trả Gregory, 2010). Theo nghị định 58/2012/NĐ-CP bắt gặp quy định khi một doanh nghiệp bị cảnh báo, kiểm soát, hủy niêm yết (Lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính kiểm toán Năm là số âm hoặc Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên Báo cáo Tài chính Kiểm toán Năm là số âm (Tức là Lỗ lũy kế)) có sự tương đồng với những dấu hiệu đã nêu ở trên hoặc một doanh nghiệp bị hủy niêm yết (doanh nghiệp thua lỗ trong ba năm liên tiếp hoặc tổng số lỗ lũy kế vượt qua số vốn điều lệ thực góp trong báo cáo tài chính kiểm toán năm gần nhất; doanh nghiệp bị tổ chức kiểm toán không chấp nhận kiểm toán hoặc từ chối cho ý kiến đối với báo cáo tài chính năm gần nhất; Sở giao dịch chứng khoán, Ủy ban chứng khoán phát hiện doanh nghiệp giả mạo hồ sơ niêm yết, hồ sơ niêm yết chứa đựng những thông tin sai lệch nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư).
Điều này cho thấy, những đối tượng doanh nghiệp trên đang trong tình trạng kiệt quệ tài chính. Cơ sở lý thuyết liên quan: 2. Cơ sở lý thuyết về cơ cấu vốn trong doanh nghiệp: 2. Cơ cấu vốn và các thành phần của cơ cấu vốn trong doanh nghiệp: 11 Dựa vào bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, cơ cấu vốn được tiếp cận với các thành phần được sắp xếp theo thứ tự tính ổn định tăng dần (Ngô Kim Phượng – Lê Hoàng Vinh và các tác giả, 2018).
Cơ cấu nguồn vốn trong doanh nghiệp tiếp cận theo đối tượng sở hữu Tiêu chí Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu 1. Thời hạn Có thời hạn hoàn trả Không có thời hạn hoàn trả Phải trả lãi cho khoản tiền đã vay Không phải trả lãi mà chia lợi trừ các khoản nợ chiếm dụng. nhuận tùy theo kết quả hoạt 2. Trách nhiệm Doanh nghiệp có thể bị phá sản động và chính sách cổ tức.
thanh toán nếu không thanh toán được nợ gốc Doanh nghiệp không bị phá và lãi. sản nếu không chia lãi. Chi phí sử Chi phí thấp Chi phí cao dụng vốn Lãi vay được tính vào chi phí khi 4. Ảnh hưởng đến Cổ tức trả cho cổ đông không xác định lợi nhuận chịu thuế thu thuế thu nhập làm giảm thuế thu nhập doanh nhập.
Do vậy, có tác động làm doanh nghiệp nghiệp.