Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán tại CTCK Chương 2 : Thiết kế nghiên cứu đề tài Chương 3 : Thực trạng quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán của MBS Chương 4 : Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán tại MBS 5 Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán tại CTCK và những vấn đề liên quan 1. Tình hình nghiên cứu về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Công trình: “ Giáo trình nghiệp vụ tự doanh chứng khoán” của PGS. TS Thái Bá Cần chủ biên do Ths Đặng Lan Hƣơng biên soạn, Khoa Tài Chính – Trƣờng ĐH Kinh doanh Công nghệ Hà Nội. Đề tài chi tiết về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán cung cấp cho sinh viên chuyên nghành quản lý kinh tế, quản lý tài chính.
Công trình: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự doanh tại công ty chứng khoán Maritime bank” của Ths Cao Xuân Tuyến, Học Viện Tài Chính. Luận văn nghiên cứu về hoạt động tự doanh chứng khoán, phân tích thực trạng, đánh giá hoạt động tự doanh đồng thời đƣa ra giải pháp nhằm phát triển hoạt động tự doanh. Luận văn phục vụ nghiên cứu và báo cáo hoạt động. Công trình: “ Thực trạng hoạt động đầu tƣ chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty CP Chứng khoán VNDirect” của Thạc sỹ Lê Thành Trung nghiên cứu về thực trạng hoạt động vụ tự doanh chứng khoán trên cơ sở đó đƣa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc đầu tƣ chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh.
Công trình: “ Hoạt động tự doanh chứng khoán tại công ty CK Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam” của Thạc sỹ Dƣơng Văn Cƣờng nghiên cứu về hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty CK ngân hàng Công thƣơng Việt Nam, từ đó đƣa ra các giải pháp phát triển hoạt động tự doanh chứng khoán. Luận văn phục vụ báo cáo, công việc nghiên cứu và làm việc hiệu quả.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán Nghiên cứu: “Quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán tại CTCK Ngân hàng 6 Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế Công thƣơng” của TS Phạm Tiến Thành và ThS Dƣơng Thanh Hà của ngân hàng Vietinbank đã khái quát lại những nguyên tắc quản lý, đi sâu vào hoạt động quản lý và một số nét thực trạng quản lý hoạt động tự doanh, trên cơ sở đó đề cập các khuyến nghị cần thực hiện để tăng cƣờng hiệu quả quản lý hoạt động tự doanh tại CTCK. Tác giả Nguyễn Anh Linh (2012) với luận văn thạc sỹ về nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động tự doanh tại các công ty chứng khoán Việt Nam” đã làm rõ một số vấn đề cơ bản lý luận trong quản lý hoạt động kinh doanh nói chung và đề xuất định hƣớng hoàn thiện công tác quản lý hoạt động kinh doanh ; Luận văn báo cáo phục vụ nhu cầu nghiên cứu và làm việc hiệu quả. Tác giả Trần Thị Xuân Anh (2014) đã nghiên cứu luận án “Tăng cƣờng quản lý hoạt động kinh doanh của các Công ty cổ phần chứng khoán ở Việt Nam” – Học viện ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu tập trung vào đánh giá mức độ thực hiện quản lý hoạt động kinh doanh của các Công ty chứng khoán ở Việt Nam nói chung để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý trong hoạt động kinh doanh, tăng cƣờng quản lý hoạt động kinh doanh giúp công ty gia tăng giá trị, vị trí trên thị trƣờng.3 Khoảng trống trong nghiên cứu Mặc dù các công trình đã nghiên cứu trên về hoạt động tự doanh chứng khoán và QL hoạt động tự doanh chứng khoán, nhƣng các công trình đã công bố chủ yếu mới nghiên cứu những nguyên lý chung về hoạt động tự doanh CK, về QL hoạt động tự doanh CK, cũng nhƣ nghiên cứu công tác QL hoạt động tự doanh CK tại một số CTCK. Cho đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu công tác QL hoạt động tự doanh CK tại MBS theo các tiếp cận khoa học QL, từ xây dựng kế hoạch tự doanh, xây dựng chính sách, đến tổ chức thực hiện QL và công tác kiểm tra, đánh giá. Nhiều vấn đề cần đƣợc làm sáng tỏ trong nghiên cứu về công tác QL hoạt động tự doanh CK tại MBS là: MBS đã QL hoạt động tự doanh CK nhƣ thế nào? Những gì là thành công? Hạn chế và nguyên nhân của tình hình là gì? Giải pháp nào của Công ty để hoàn thiện công tác QL hoạt động tự doanh CK tại MBS…? Đề tài: “Quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán của Công ty Cổ phần chứng khoán MB” đƣợc cho là một thử thách đối với tác giả. Tuy nhiên, do bản thân đã 7 Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán cho nên tác giả muốn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này nhằm tăng cƣờng hiểu biết cá nhân đồng thời mong muốn sẽ đóng góp cho các CTCK có thêm một góc nhìn về quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán từ đó hạn chế hoặc làm giảm thiểu tác động không mong muốn cho Công ty nói riêng và thị trƣờng chứng khoán nói chung.2 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán tại công ty chứng khoán 1.1 Tự doanh chứng khoán 1.1 Khái niệm Hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động của CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình.
Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trƣờng, nên CTCK có những lợi thế nhất định khi tiến hành hoạt động tự doanh nhƣ: CTCK có thể dự đoán diễn biến của thị trƣờng, nắm đƣợc xu thế giao dịch; có nhân viên đại diện sàn, nên họ biết thông tin đầy đủ về quan hệ cung cầu đối với từng chứng khoán và không phải nghĩ đến phí giao dịch khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Hoạt động tự doanh của mỗi CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn đƣợc coi là hoạt động giao dịch của một nhà đầu tƣ lớn, chuyên nghiệp có những tác động nhất định tới giá cả của thị trƣờng. Do đó, CTCK có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trƣờng. Khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh, mục đích quan trọng nhất đối với CTCK tất yếu là nhằm thu lợi cho chính mình.
Theo điều 6 Luật chứng khoán quy định: “Tự doanh chứng khoán là việc CTCK mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình”. (Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, năm 2005) Nhƣ vậy, Tự doanh là hoạt động tự mua bán chứng khoán cho mình để hƣởng lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán. Nói cách khác, tự doanh là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán nhằm thu chênh lệch giá (mua thấp, bán cao). 8 Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế Hoạt động tự doanh của CTCK đƣợc thực hiện ở SGD và thị trƣờng OTC.
Tại SGD hoạt động mua bán này cũng đƣợc tiến hành nhƣ hoạt động của nhà đầu tƣ thông thƣờng. Trên thị trƣờng OTC, hoạt động tự doanh có thể đƣợc thực hiện trực tuyến giữa công ty với các đối tác, thông qua hoạt động tạo thị trƣờng hoặc thông qua hệ thống giao dịch tự động. Tự doanh đƣợc thực hiện theo phƣơng thức giao dịch trực tiếp hay gián tiếp. Giao dịch trực tiếp Là các giao dịch “trao tay” giữa khách hàng và công ty chứng khoán theo giá thỏa thuận trực tiếp.
Các đối tác giao dịch do các tổ chức tự “đấu mối”, họ có thể là cá nhân hay tổ chức (chủ yếu là các công ty chứng khoán). Thời gian giao dịch thƣờng đƣợc thực hiện trong và ngoài giờ giao dịch của Sở (Trung tâm) giao dịch. Chứng khoán giao dịch rất đa dạng (chủ yếu là chứng khoán không niêm yết, chứng khoán mới phát hành). Các đối tác giao dịch thƣờng trực tiếp thực hiện các thủ tục thanh toán và chuyển nhƣợng chứng khoán.
Vì vậy, trong giao dịch này không có bất kỳ một loại phí nào, riêng phí thanh toán do bên thụ hƣởng chịu, phí chuyển khoản chứng khoán do bên chuyển nhƣợng chịu. Các hoạt động này không chịu sự giám sát của Sở (trung tâm) giao dịch nhƣng chịu sự giám sát của Thanh tra Nhà nƣớc về chứng khoán. Doanh số giao dịch trực tiếp lớn gấp bội lần doanh số giao dịch trên Sở (trung tâm) giao dịch (thƣờng chiếm 85- 90% doanh số giao dịch của thị trƣờng). Giao dịch gián tiếp Là các giao dịch mà công ty chứng khoán không thể thực hiện đƣợc bằng giao dịch trực tiếp để đảm bảo an toàn khi giá chứng khoán có biến động lớn và đôi khi có thể vì mục đích can thiệp vào giá thị trƣờng.
Thao tác giao dịch này cũng đƣợc thực hiện tƣơng tự nhƣ giao dịch theo ủy thác, hay nói cách khác, trên Sở (trung tâm) giao dịch không có sự phân biệt giao dịch theo ủy thác và giao dịch tự doanh. Do giao dịch qua Sở (trung tâm) giao dịch, nên công ty chứng khoán phải chịu các chi phí môi giới lập giá, chi phí thanh toán bù trừ và lƣu ký chứng khoán. 9 Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 1.2 Đặc điểm Hoạt động tự doanh chứng khoán có đặc điểm: Thứ nhất, hoạt động tự doanh của CTCK mang tính chuyên nghiệp cao. Tính chuyên nghiệp đƣợc thể hiện trƣớc hết ở trình độ và khả năng của các cán bộ thực hiện hoạt động tự doanh.
Họ phải là những ngƣời có kiến thức chuyên sâu, có khả năng phân tích, là ngƣời có khả năng đƣa ra đƣợc các quyết định đúng đắn trong hoạt động tự doanh và phải làm việc dƣới những áp lực lớn. Bên canh đó, tính năng động và tự chủ của họ luôn đƣợc đề cao trong các quyết định đầu tƣ và kinh doanh chứng khoán. Song quá trình đầu tƣ và kinh doanh chứng khoán này đều phải tuân theo những quy trình đầu tƣ chặt chẽ nhằm bảo đảm tính hiệu quả và an toàn trong đầu tƣ. Quy trình đầu tƣ đƣa ra các bƣớc cần thiết để thực hiện một phƣơng án đầu tƣ, đồng thời nó cũng quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các đối tƣợng tham gia hoạt động tự doanh của công ty.