Chương 1 là phần giới thiệu, trong đó trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại của hiệu ứng Fisher. Chương tiếp theo, chúng tôi thực hiện xây dựng mô hình lý thuyết và tập trung vào phương pháp nghiên cứu. Chương 4 xem xét và phân tích kết quả nghiên cứu về mối quan hệ đồng liên kết giữa lạm phát và lãi suất ở các quốc gia Đông Nam Á.
Từ đó đưa ra nhận định về sự tồn tại của hiệu ứng Fisher ở các nước này. Chương 5, phần cuối của bài, sẽ tổng hợp lại những phát hiện của bài nghiên cứu và kết luận. 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN HỌC THUẬT – KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2.1 Hiệu ứng Fisher Hiệu ứng Fisher là một trong những chủ đề mang đến nhiều ý kiến khác nhau trong lĩnh vực tài chính quốc tế. Trong nhiều năm qua, nhiều giả thiết được đặt ra và nhiều phương pháp được áp dụng để kiểm định điều này.
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát, đầu tiên đưa ra bởi Fisher (1930), mặc nhiên cho rằng lãi suất danh nghĩa trong giai đoạn bất kỳ bằng tổng của lãi suất thực tế và tỷ lệ lạm phát kỳ vọng. Điều này được gọi là hiệu ứng Fisher. Fisher (1930) đưa ra giả thuyết rằng lãi suất danh nghĩa có thể được chia thành hai thành phần. Theo Fisher, lãi suất danh nghĩa sẽ tương đương với lãi suất thực và lạm phát.
Đẳng thức trên cho thấy lãi suất danh nghĩa có thể thay đổi do ba nguyên nhân: lãi suất thực thay đổi, tỷ lệ lạm phát thay đổi, hay cả hai cùng thay đổi.Với giả định thị trường vốn là hoàn hảo và các dòng vốn có thể chuyển dịch tự do, lãi suất thực ở các nước sẽ tiến về mức cân bằng. Lúc này một sự chênh lệch trong lãi suất danh nghĩa thể hiện chênh lệch trong lạm phát. Một cách diễn đạt khác: Hiệu ứng Fisher cho rằng: trong dài hạn, tỷ lệ lạm phát tác động vào lãi suất danh nghĩa theo tỷ lệ 1:1.Điều này có nghĩa lãi suất danh nghĩa trong dài hạn sẽ hoàn toàn di chuyển cùng hướng với lạm phát kì vọng. Và Fisher nhấn mạnh rằng trong dài hạn, lãi suất thực là không đổi và sẽ không chịu tác động của cả lạm phát lẫn lãi suất danh nghĩa.
Kết luận trên cho thấy lãi suất thực sẽ không bị ảnh hưởng bởi các chính sách tiền tệ. Với vai trò quan trọng của chính sách tiền tệ trong điều hành nền kinh tế vĩ mô, mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất đã trở thành chủ đề nóng cho nhà nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trước đây lại tìm ra những bằng chứng khác nhau về hiệu ứng Fisher. 6 Fisher (1930) đã kiểm tra mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát của Mỹ và Anh với giả thiết rằng kỳ vọng lạm phát được hình thành trên cơ sở của một cấu trúc độ trễ phân phối.
Bằng việc sử dụng dữ liệu theo năm trong thời kì 1890 – 1927 với Mỹ và thời kì 1820 – 1924 với Anh. Fisher thấy rằng kỳ vọng lạm phát không được ngay lập tức phản ánh vào lãi suất. Đối với Mỹ, mối tương quan cao nhất (0.86) giữa lãi suất dài hạn và thay đổi giá thu được khi sau hơn 20 năm (với độ trễ là 20) , trong khi đối với Anh, hệ số tương quan 0,98 thu được sau hơn 28 năm. Nghiên cứu về lãi suất chứng chỉ có giá ngắn hạn trong mối quan hệ với sự thay đổi giá hằng quý ở Mỹ đã ủng hộ những bằng chứng về mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất và lạm phát.
Fisher(1930) đã kết luận: “Chúng tôi đã tìm thấy bằng chứng tổng quá và củ thể… rằng sự thay đổi giá cả ảnh hưởng đến lãi suất theo cách mà được đề cập trong thuyết tiên nghiệm. Nhưng việc tiên nghiệm là không hoàn hảo, tác động sẽ nhỏ hơn lý thuyết và độ trễ của sự thay đổi giá, ở vài thời kì, là khá lớn. Khi ảnh hưởng của sự thay đổi giá đến lãi suất được phân phối qua nhiều năm, chúng tôi phát hiện hệ số tương quan cao, và điều này cho thấy rằng lãi suất sẽ theo sau sự thay đổi giá, mặc dù sau một khoảng thời gian”. (Trích Fisher(1930,tr.451) Mặc dù nhiều nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy mối tương quan cùng chiều giữa lạm phát và lãi suất ở Mỹ, Canada và Anh, một số nghiên cứu không tìm thấy tỷ lệ 1:1 được đề cập bởi Fisher.
(Mishkin, 1981, 1984, 1988, 1992; Bonham, 1991; Jacques, 1995; Peng, 1995; Malliaropulos, 2000; Atkins and Coe, 2002; Bajo et al., 2003; Clemente et al., 2004; and Granville and Mallick, 2004). Tuy nhiên, bằng chứng về hiệu ứng Fisher đối với các nước phát triển như Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ, Nhật và Úc được nghiên cứu bởi Peng (1995), Yuhn (1996), Olekalns (1996), Hawtry (1997), và Koustas & SerMishkin (1999) cũng chưa thật sự rõ ràng.2 Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại của hiệu ứng Fisher 2.1 Các nghiên cứu ở Mỹ Sargent (1969), Gibson (1970), Yohe và Karnosky (1969), Lahiri (1976) nghiên cứu kiểm định kết quả của Fisher đối với sự tồn tại của một cấu trúc phân phối độ trễ trong việc hình thành kỳ vọng với.Sargent (1969) và Gibson (1970) đã sử dụng tỷ trọng hình học giảm dần, hay còn gọi là độ trễ Koyck, được đề xuất bởi Koyk(1954); trong khi Yohe và Karnosky (1969) sử dụng kỹ thuật độ trễ Almon để tránh các vấn đề về đa cộng tuyến. Các nghiên cứu của Sargent và Gibson, dựa trên dữ liệu từ thời kỳ trước chiến tranh, khẳng định kết quả nghiên cứu của Fisher về tác động đáng kể của phân phối độ trễ đến các chỉ số kì vọng. Ngoài ra, Gibson quan sát thấy rằng dường như có một yếu tố mang tính chu kỳ trong việc hình thành giá kỳ vọng, gợi ý của một mô hình bậc cao mô phỏng cho thay đổi giá trong quá khứ.
Một ý nghĩa quan trọng từ nghiên cứu của ông là các chính sách được đề ra nhằm tác động đến lãi suất sẽ được thể hiện trên những kỳ vọng giá, hay nói cách khác sự thay đổi giá sẽ tác động đến lãi suất. Từ những năm 1960s, các nghiên cứu của Yohe và Karnosky (1969), Gibson (1972) và Lahiri ( 1976) đã tìm thấy bằng chứng về việc giảm độ trễ trong hình thành kì vọng. Yohe và Karnosky phát hiện sự thay đổi giá có tác động lớn trong thời kì 1961-1969 hơn thời kì 1952-1960. Gibson (1972) quan sát thấy rằng có một điểm điều chỉnh trong lãi suất danh nghĩa từ sự thay đổi trong lạm phát trong thời kì 1959-1970, với độ trễ là 6 tháng.
Kết quả cho thấy độ trễ ngắn hơn và có tác động lớn hơn đến lãi suất sau 1959, điều này ủng hộ cho nghiên cứu của Yohe và Karnosky. Lahiri, sử dụng 4 phương pháp tiếp cận khác nhau đến lạm phát kì vọng – trung bình cộng, điều chỉnh, ngoại suy và phương pháp Frenkel – và ông tìm thấy bằng chứng về sự hình thành kì vọng nhanh hơn trong thời kì sau 1960, phù hợp với phát hiện của Yohe và Karnosky và Gibson. Nhìn chung, một mối quan hệ tích cực giữa lãi suất và lạm phát với một rút ngắn đáng kể độ trễ từ những năm 1960 trở đi được chứng minh bằng những nghiên cứu trên. 8 Thuyết kì vọng hợp lý được phát biểu bởi Muth (1961) và thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Fama (1970) đã bác bỏ quan điểm của Fisher.
Nếu Fisher cho rằng những thay đổi của giá trong quá khứ sẽ phản ánh trong lãi suất hiện tại thì Fama (1975) cho rằng thay đổi giá tương lai đã được phản ánh trong lãi suất hiện tại rồi. Điều này được giải thích bằng những bằng chứng về thị trường hiệu quả. Fama sử dụng dữ liệu lãi suất trái phiếu chính phủ kì hạn 1 tháng đại diện cho biến lãi suất và sự thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng CPI để đại diện cho lạm phát, ông kiểm định giả thiết Thị trường trái phiếu chính phủ Mỹ là hiệu quả và lãi suất thực của trái phiếu chính phủ kì hạn 1-6 tháng là hằng số. Sử dụng độ trễ từ 1 đến 12 cho giai đoạn 01/1953 – 07/1971, kết quả cho tất cả các kì hạn cho thấy thị trường sử dụng tất cả các thông tin về tỷ lệ lạm phát trong việc thiết lập lãi suất danh nghĩa, từ đó hỗ trợ cho giả thuyết thị trường hiệu quả.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Fama cũng phần nào cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất. Mishkin (1992) nỗ lực tìm bằng chứng về việc tại sao tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về hiệu ứng Fisher ở một số giai đoạn này nhưng lại không tìm thấy ở giai đoạn khác. Ông chỉ ra rằng hiệu ứng Fisher sẽ chỉ xuất hiện trong các mẫu mà lạm phát và lãi suất có xu hướng ngẫu nhiên. Với dữ liệu của Mỹ từ 01/1953 đến 12/1990 và kiểm định nghiệm đơn vị Dickey Fuller và Phillips, ông nhận thấy lạm phát và lãi suất đều chứa nghiệm đơn vị, hay nói cách khác , chúng không dừng.
Kiểm định đồng liên kết giữa lạm phát và lãi suất được thực hiện đã phát hiện hiệu ứng Fisher trong dài hạn. Như dự đoán, hiệu ứng Fisher được nhận thấy cho thời kì sau chiến tranh đến 10/1979 , giai đoạn mà lạm phát và lãi suất co xu hướng ngẫu nhiên. Ông không tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng Fisher cho thời kì trước chiến tranh và từ 10/1979 đến 09/1982. Nghiên cứu của Bonham (1991), Jacques (1995) và Wallace và Warner (1993) sử dụng dữ liệu cùng kì với Mishkin cũng tìm thấy kết quả về nghiệm đơn vị của chuỗi dữ liệu lạm phát.
Áp dụng phương pháp cấu trúc kì hạn, Wallace và Warner (1993) kiểm định tác động của lạm phát đến lãi suất. Bằng phương pháp kiểm định đồng liên kết 9 Johansen và Juselius (1990) cho dữ liệu theo quý từ 01/1948 đến 04/1990, họ nhận thấy lạm phát và lãi suất là chuỗi dừng bậc 1 trong hầu hết các trường hợp. Họ tìm ra mối quan hệ đồng liên kết và ủng hộ hiệu ứng Fisher. Giả thiết về mối quan hệ 1:1 giữa lãi suất và lạm phát là không thể bác bỏ.
Trong khi đó, giả thiết H0: không có đồng liên kết không thể bác bỏ ở mức 5% đối với dữ liệu trong thời kì 01/1995 – 01/1986. Pelaez (1995) kiểm định hiệu ứng Fisher tại Mỹ bằng cả hai phương pháp Engle Granger 2 bước và VECM Johansen cho thời kì 01/1959-04/1993.