Chương I: : Chương này sẽ nh bày những khái niệm cơ bản về lạm phát và lãi suất. Bên cạnh đó, chương này phân tích thực trạng của lạm phát, lãi suất và mối liên hệ của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam. Chương II: : Chương này giới thiệu nền tảng lý thuyết và một số kết quả thực nghiệm về lạm phát và lãi suất ở trong và ngoài nước. Chương III: Phương pháp luận: Chương này hệ thống lại phương pháp và đưa ra mô hình áp dụng cho trường hợp cụ thể của Việt Nam.
Chương IV: Kết quả thự : Chương này giới thiệu một số kết quả thực nghiệm ban đầu và giải thích các kết quả của mô hình thu được. ột số kết luận và khuyến nghị này tóm lược lại những kết luận chính trong phần mô hình thực nghiệm ở Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị chính sách với mong muốn đóng góp một phần vào nền tảng nghiên cứu lạm phát và lãi suất ở Việt nam.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Lạm phát * Khái niệm lạm phát Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với một thời điểm trước đó, thường là tháng, quý hoặc năm. Như vậy lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi. Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa v ới sức mua của đồng tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với thời kỳ trước.
Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con số (single-digit inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation). * Phân loại lạm phát và các nguyên nhân của lạm phát - Lạm phát do cầu kéo Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó tăng lên mức cao hơn. Lạm phát do cầu kéo thường là do chính phủ chi tiêu quá mức khi thực hiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng, hoặc do hộ gia đình tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình thường hoặc do khu vực hộ gia đình có ngu ồn thu nhập không do sản xuất như viện trợ nước ngoài, hay thu nhập do giá cả xuất khẩu tăng đột biến. 8 - Lạm phát do chi phí đẩy Khác với loại lạm phát do cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy chủ yếu đến từ phía cung và nguyên nhân chủ yếu được xuất phát từ những cú sốc tổng cung bất lợi như giá nguyên liệu gia tăng đột biến, thảm họa tự nhiên làm đình tr ệ hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Cụ thể, chi phí của các Doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế. Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì t ổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Do đó, mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
- Lạm phát do cơ cấu Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho ngư ời lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng đ ể đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Đây cũng được coi là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến lạm phát.
- Lạm phát do xuất khẩu Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng. - Lạm phát do nhập khẩu Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán s ản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
- Lạm phát tiền tệ là lạm phát do tăng cung tiền như do mua ngoại tệ vào để giữ giá cho đồng nội tệ so với ngoại tệ, hay do mua công trái theo yêu cầu của nhà nước., khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên hoặc có thể do tỷ giá hối đoái được điều chỉnh không phù hợp. 9 - Lạm phát do kỳ vọng: lạm phát trong quá khứ gây kỳ vọng cho người dân và doanh nghiệp có tâm lý là lạm phát sẽ tiếp tục xảy ra thậm chí còn cao hơn và chính k ỳ vọng ấy thúc đẩy lao động đòi tăng lương, doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm, và từ đó có thể làm lạm phát trở lên trầm trọng hơn.2 Lãi suất * Khái niệm về lãi suất Lãi suất là một phạm trù kinh tế quan trọng được đề cập trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế từ tiết kiệm, đầu tư, kiểm soát lạm. Nhà nước sử dụng lãi suất như là một công cụ của chính sách tiền tệ để điều tiết các quan hệ kinh tế trong một nền kinh tế với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. Như vậy, lãi suất có một vai trò quan trọng và với các phương thức tác động vào lãi suất của nhà nước hình thành nên nhiều quan điểm, xu hướng khác nhau về lãi suất và điều hành lãi suất.
Hay nói một cách khác, lãi suất là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, do - cơ quan thay mặt Nhà nước thực thi chính sách tài chính tiền tệ - nắm giữ, và sử dụng nhằm điều chỉnh và can thiệp vào thị trường giúp hạn chế và khắc phục những yếu kém của nền kinh tế. Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu. Mặt khác, trong nền kinh tế luôn có những chủ thể tạm thời dư thừa vốn, cùng lúc đó có những người có cơ hội đầu tư sinh lợi, cần vốn song lại thiếu vốn, thị trường tài chính ra đời làm thông suốt quá trình chuyển vốn từ người thừa vốn sang người cần vốn, các chủ thể qua quan hệ vay mượn tín dụng hoặc mua bán các công cụ nợ đều đạt được mục đích 10 của mình; ngư ời thừa vốn vừa bảo đảm được vốn vừa thu được lợi, người thiếu vốn vừa được đáp ứng đủ cho đàu tư.
Do vậy, theo quan điểm thị trường, lãi suất được hình thành như giá cả của một loại hàng hoá (ở đây là vốn), nó là chi phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để được quyền sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung cầu, xác định trên cơ sở cân bằng giữa nhu cầu về vốn vá cung về vốn trên thị trường. Như vậy, lãi suất chính là tín hiệu thị trường tham gia vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý. Ngoài ra khái niệm lãi suất như là chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tương đối phổ biến. Trong đời sống hàng ngày chúng ta cũng g ặp rất nhiều loại lãi suất khác nhau như lãi suất các chứng khoán, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất danh nghĩa - lãi suất thực, lãi suất trần - sàn.
Sự phân biệt các loại lãi suất này dựa trên sự liên quan đến vai trò công cụ của chính sách tiền tệ, chỉ số lạm phát hoặc kỳ hạn và rủi ro của mỗi loại chứng khoán. Tuy nhiên một điều quan trọng là hầu hết các loại lãi suất này đều diễn biến theo nhau. * Cơ chế xác định lãi suất Từ những khái niệm trên về lãi suất ở trên, ta có thể mô hình hoá những yếu tố tham gia vào việc hình thành nên lãi suất trong nền kinh tế. Tài chính gián tiếp (NHTM) Ngân hàng Tài chính trực tiếp (lãi suất) Người đi vay Người cho vay 11 Như vậy, có hai yếu tố tham gia vào hình thành lãi suất của thị trường: + Nhóm yếu tố thứ nhất thuộc lực lượng thị trườ m này bao gồm người cho vay, người đ i v ay và các Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức Tài chính trung gian.
Các Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức Tài chính trung gian có vai trò nhất định. Những yếu tố này tham gia vào việc xác định lãi suất tuân theo qui luật của thị trường. Nghĩa là những yếu tố này xác định mức lãi suất cân bằng thông qua mức cung và cầu về vốn. + Nhóm yếu tố thứ hai là các yếu tố thuộc Chính sách tiền tệ: bao gồm các Cơ quan có có nhiệm vụ phát hành tiền, quản lý hành chính hệ thống Ngân hàng, xây dựng chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, mục tiêu của công cụ lãi suất mà sử dụng nhằm mục đích là ổn định tiền tệ, tạo việc làm và tăng trưởng kinh t. sử dụng công cụ lãi suất phụ thuộc vào chính sách điều hành lãi suất của ở mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế. Xây dựng chính sách lãi suất đúng đắn nhằm hướng dẫn phân bổ hợp lí nguồn vốn, huy động được tất cả các nguồn lực tiềm năng trong nền kinh tế, kích thích đầu tư, phù hợp tỷ giá và tạo thuận lợi cho hoạt động ngoại thương, mang lại đà phát triển vững mạnh cho nền kinh tế là một yêu cầu bức thiết luôn được đặt ra cho mỗi quốc gia cũng như các nhà hoạch định chính sách của nó. có thể tác động tới lãi suất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách áp đặt một mức lãi suất cho thị trường hoặc sử dụng các công cụ tác động gián tiếp đến mức lãi suất cân bằng của thị trường.
Các công cụ này bao gồm: - Dự trữ bắt buộc là công cụ của chính sách tiền tệ.