CHƯƠNG 1. Lý do chọn đề tài Mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng đã được quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây. Theo kênh cho vay ngân hàng, khi các ngân hàng trung ương giảm lãi suất chính sách để kích thích nền kinh tế, khối lượng cho vay có thể tăng lên (Bernanke & Blinder, 1988). Người ta cũng thừa nhận rằng chính sách tiền tệ có thể chi phối thu nhập của ngân hàng khi nó quyết định lãi suất mà các ngân hàng sử dụng để tính phí người đi vay và vay mượn từ người gửi tiền.
Cũng có cơ sở cho rằng việc mở rộng chính sách tiền tệ có thể làm thay đổi nhận thức hoặc khả năng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng, dẫn đến hành vi rủi ro quá mức như dự đoán của các tài liệu về kênh rủi ro ngân hàng (Borio & Zhu, 2012). Ngoài lãi suất, các ngân hàng trung ương cũng có thể mua các tài sản tài chính theo hoạt động thị trường mở, với mong muốn thúc đẩy hoạt động cho vay và thúc đẩy kinh tế (Chakraborty và cộng sự, 2020). Tuy nhiên, chính sách tiền tệ, cả nới lỏng và thắt chặt, còn làm thay đổi các khoản mục nội và ngoại bảng của ngân hàng. Cơ chế tác động của chính sách tiền tệ là rất phức tạp, dẫn đến sự chưa rõ ràng trong cách phản ứng của các ngân hàng.
Chứa các thông tin thay đổi về tài sản, nợ phải trả và các hoạt động ngoại bảng, khả năng trữ thanh khoản ngân hàng được cho là một sự bổ sung phù hợp cho cho vay ngân hàng trong việc biểu thị tổng sản lượng đầu ra của ngân hàng (Berger và cộng sự, 2019; Berger & Bouwman, 2009; Berger & Sedunov, 2017; Davydov và cộng sự, 2018). Do đó, việc nghiên cứu kênh trữ thanh khoản ngân hàng sẽ là sự bổ sung lý tưởng cho vấn đề truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh cho vay ngân hàng, qua đó cung cấp nhiều hàm ý sâu sắc trong việc điều tiết đầu ra của ngân hàng và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này nhằm khảo sát một kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ mới thông qua hệ thống ngân hàng, tập trung vào tác động của chính sách tiền tệ đến tích trữ thanh khoản của ngân hàng. Khi phân tích khả năng tích trữ thanh khoản của ngân hàng, chúng ta cần biết về những kết quả không mong muốn quan trọng mà nó có thể gây ra.
Chức năng chính của các ngân hàng là tạo thanh khoản để đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Với xu hướng này, việc tích trữ quá nhiều thanh khoản của ngân hàng là rất tốn kém vì nó hạn chế khả năng tạo thanh khoản của ngân hàng và việc thiếu nguồn tài trợ thường được coi là một trong những hạn chế đáng kể nhất đối với tăng trưởng kinh tế (Nketcha Nana & Samson, 1 2014). Trong một số trường hợp cực đoan, việc tích trữ thanh khoản của ngân hàng có thể gây ra rủi ro hệ thống thông qua hiệu ứng lan toả vì việc các ngân hàng gặp căng thẳng bắt đầu các hành động tích trữ thanh khoản và bán tài sản có thể cản trở và gây hại cho các ngân hàng khác (Diamond & Rajan, 2011). Về mối liên hệ với chính sách tiền tệ, tích trữ thanh khoản ngân hàng là trọng tâm của quá trình thực hiện và truyền dẫn tiền tệ.
Bằng cách thay đổi lập trường chính sách tiền tệ, các ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh các hoạt động ngân hàng trong và ngoài bảng cân đối kế toán, và thông qua việc điều chỉnh như vậy, họ có thể thúc đẩy nền kinh tế (Berger & Sedunov, 2017). Nghiên cứu này khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, cụ thể là nhóm nghiên cứu tập trung vào hành vi trữ thanh khoản ngân hàng, thông qua việc sử dụng một phương pháp đo lường trữ thanh khoản ngân hàng mới và toàn diện do Berger và cộng sự (2020) đề xuất. Các tài liệu hiện có chỉ xem xét tài sản lưu động hoặc các hệ số đơn giản khác để khám phá khả năng tích trữ thanh khoản của ngân hàng. Không tập trung vào một hoặc một vài khoản mục trên bảng cân đối kế toán ngân hàng hoặc báo cáo thu nhập, phép đo tích trữ thanh khoản ngân hàng của nghiên cứu này kết hợp tất cả các khoản mục ngân hàng trên nội bảng tài sản, nợ phải trả và ngoại bảng.
Mô phỏng theo Berger và cộng sự (2020), nhóm nghiên cứu kiểm tra tổng tích trữ thanh khoản của ngân hàng và cả ba cấu phần của nó, bao gồm tích trữ thanh khoản ở phía tài sản, bên nợ phải trả và bên ngoài bảng cân đối kế toán. Các thiết kế nghiên cứu tổng hợp và phân tách như vậy là cần thiết vì thực tế là các nghiên cứu trước đó không tách biệt các thành phần tích trữ thanh khoản, do đó tác động kích thích lên các loại tích trữ thanh khoản khác nhau chưa được khám phá. Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy rằng các công cụ chính sách tiền tệ khác nhau gây ra các tác động khác nhau đến các biến số kinh tế theo các lộ trình không đồng nhất. Ví dụ, mặc dù tác động của các công cụ dựa trên lãi suất và định lượng có thể giống nhau ở một số khía cạnh, nhưng có thể tồn tại một số khác biệt nhất định do mức độ can thiệp của ngân hàng trung ương là khác nhau và bản chất khác nhau của các công cụ (Varlik & Berument, 2017).
Nhóm nghiên cứu giải quyết vấn đề này bằng cách khảo sát các công cụ chính sách khác nhau trong thị trường có nhiều công cụ tiền tệ. Về mặt này, Việt Nam đã nổi lên như một đại diện phù hợp. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đề ra nhiều mục tiêu khi thực hiện chính sách tiền tệ (như tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô), trong đó không xác định mục tiêu chính (Dang & Nguyen, 2020). Theo đó, NHNN kết hợp nhiều công 2 cụ chính sách khác nhau để đạt được các mục tiêu của mình.
Trong đó, một số công cụ thiết yếu được sử dụng thường xuyên hơn các công cụ khác, bao gồm lãi suất chính sách và nghiệp vụ thị trường mở. Điều thú vị là NHNN còn ban hành các chỉ đạo nhằm điều chỉnh trực tiếp khung lãi suất kinh doanh mà các ngân hàng áp dụng với khách hàng. Ngoài các đặc điểm của khuôn khổ chính sách tiền tệ, vai trò và sự thay đổi của hệ thống ngân hàng cũng làm cho các phân tích sử dụng bối cảnh Việt Nam trở nên phù hợp hơn. Hoạt động ngân hàng được coi là hoạt động tài trợ cốt lõi của nền kinh tế khi mà thị trường vốn của Việt Nam được đánh giá là chưa phát triển (Dang & Huynh, 2020).
Thực tế này có thể làm cho việc truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng trở nên rõ rệt hơn. Cũng cần lưu ý rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua quá trình cải cách toàn diện trong những thập kỷ qua, do đó các đặc điểm của ngân hàng về cơ cấu tài chính, năng suất và mô hình kinh doanh đã thay đổi đáng kể. Nhìn chung, những khảo sát về kênh trữ thanh khoản ngân hàng hiện tại vẫn còn rất hạn chế. Điều này khiến cho sự truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh trữ thanh khoản ngân hàng trở thành một câu hỏi thực nghiệm quan trọng cần được giải đáp xa hơn, đặc biệt cho Việt Nam nợi mà vấn đề này vẫn còn để ngỏ.
Mục tiêu nghiên cứu Đề tài đặt ra mục tiêu tổng quát là đánh giá được tác động của chính sách tiền tệ đối với hành vi trữ thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Qua đó đề tài cung cấp các hàm ý chính sách và kinh doanh phù hợp, giúp cơ quan quản lý tiền tệ có thể đưa ra được những chính sách điều hành đảm bảo được hiệu quả tác động hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, và các ngân hàng có thể trang bị những nhận thức đúng đắn để điều chỉnh hành vi của mình trước những động thái điều hành tiền tệ của nhà nước. Mục tiêu này được đảm bảo thông qua các mục tiêu cụ thể như sau: – Đo lường mức độ trữ thanh khoản ngân hàng tại Việt Nam thông qua các thang đo mới và toàn diện khi bao quát được các khoản mục tài sản, nguồn vốn và cả các khoản mục ngoại bảng ngân hàng. – Phân tích tác động của chính sách tiền tệ đến hành vi trữ thanh khoản ngân hàng tại Việt Nam thông qua các ước lượng hồi quy.
– Đánh giá sự khác biệt trong cơ chế trữ thanh khoản ngân hàng tại các nhóm ngân hàng rủi ro khác nhau trước những điều chỉnh chính sách tiền tệ. Dữ liệu nghiên cứu Đề tài này sử dụng dữ liệu của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2007–2019, thu thập thông tin từ các báo cáo tài chính được công bố trên trang web của 31 ngân hàng. Nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu cho các biến chính sách tiền tệ từ cơ sở dữ liệu của NHNN và Cơ quan thống kê tài chính quốc tế (IFS) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Đề tài cũng trích xuất các dữ liệu khác về kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ Ngân hàng Thế giới (WB).
Phương pháp nghiên cứu Đề tài áp dụng nhiều thang đo chính sách tiền tệ dựa trên lãi suất và định lượng (lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, và nghiệp vụ thị trường mở). Dữ liệu tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam được sử dụng để thực hiện hồi quy trên mô hình bảng động theo phương pháp momen tổng quát (GMM). Đề tài tiếp cận thước đo được phát triển bởi Berger và Bouwman (2009) và Berger và cộng sự (2020), với một vài điều chỉnh phù hợp cho thị trường mới nổi có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, để lượng hoá khả năng trữ thanh khoản của từng ngân hàng trong hệ thống. Năng lực trữ thanh khoản cả nội và ngoại bảng của ngân hàng được xem xét.
Một số đóng góp của nghiên cứu Nghiên cứu này cung cấp một số đóng góp học thuật quan trọng: – Đề tài làm rõ cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh trữ thanh khoản ngân hàng, trong bối cảnh những khảo sát về kênh trữ thanh khoản ngân hàng hiện tại vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt khi mà vấn đề này vẫn còn để ngỏ tại Việt Nam.