phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất Chƣơng 2: Thực trạng cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam. 123doc -1- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT 1.1 Khái niệm về lãi suất Lịch sử các học thuyết kinh tế cho thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau về tiền tệ và lãi suất, trong đó có những quan điểm tiến bộ, cũng có những quan điểm còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Nhưng một thực tế cho thấy rằng, theo thời gian, các quan điểm này ngày càng hoàn thiện hơn và đã khắc phục cũng như bổ sung được những khiếm khuyết của các học thuyết trước đó. Sau đây là các khái niệm về lãi suất của một số học thuyết kinh tế: - Karl Marx (1818 – 1883) cho rằng “sau một thời gian nhất định tư bản cho vay được hoàn lại người chủ sở hữu của nó kèm theo một giá trị tăng thêm đó là lợi tức tín dụng”, như vậy theo ông lợi tức tín dụng là một bộ phận của giá trị thặng dư hay lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay tạo ra bằng việc sử dụng vốn vay và phải phân phối lại cho nhà tư bản cho vay.
Vì theo Keynes thì người có tiền không muốn xa rời nó do của cải dưới hình thức tiền tệ là linh hoạt, thuận lợi và an toàn nhất. Khi người có tiền quyết định cho vay thì họ phải chấp nhận sự mạo hiểm, do đó họ đòi hỏi phải nhận được phần thưởng – đó chính là lãi suất. - Ngoài ra, đại diện của Trường phái Cambridge (Anh) – Trường phái tân cổ điển, Alfred Marshall (1842 – 1924) đã phát biểu: “Lãi suất là cái giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên một thị trường bất kỳ, lãi suất vươn tới một mức cân bằng sao cho tổng cầu về vốn trên thị trường đó với lãi suất đó bằng tổng cung về vốn được cung ứng trên thị trường đó với lãi suất đó”, và P.Nordhaus – đại biểu của 123doc -2- Trường phái chính hiện đại cũng cho rằng: “Lãi suất là giá cả của việc sử dụng một số tiền vay trong một thời gian nhất định”. Như vậy, có thể hiểu lãi suất là giá của quyền sử dụng vốn hay là chi phí mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong đó, lợi tức (interest) hay số tiền lãi phải trả là chi phí sử dụng vốn được biểu hiện bằng số tuyệt đối, là phần giá trị tăng thêm ngoài vốn gốc mà người đi vay phải trả cho người cho vay về việc chuyển giao quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Còn lãi suất (interest rate) hay tỷ suất lợi tức, là chi phí sử dụng vốn được biểu hiện bằng số tương đối (tỷ lệ phần trăm – %), là tỷ số giữa tổng số lợi tức và tổng số tiền cho vay trong cùng một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất tín dụng được dùng làm cơ sở để tính lợi tức tín dụng và quyết định tổng số lợi tức tín dụng mà người cho vay nhận được.2 Cơ sở hình thành lãi suất Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều có nền kinh tế thị trường và chủ yếu theo đuổi chính sách tự do hóa tài chính, do vậy, cơ chế hình thành lãi suất chủ yếu dựa trên cơ chế thị trường. Cũng giống như tất cả các loại giá cả khác trên thị trường, lãi suất cũng được quyết định bởi cung – cầu, và trong trường hợp này chính là cung cầu về vốn vay.
Sự thay đổi về cung – cầu của vốn vay sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và biến đổi của lãi suất trên thị trường. Cung về vốn vay có nguồn gốc từ tiết kiệm của hộ gia đình. Người dân thường có nhu cầu sử dụng phần tiết kiệm của mình để đầu tư sinh lời hoặc gửi vào ngân hàng để nhận tiền lãi, sau đó chính các NH này lại sử dụng tiền đã huy động được để cho vay đáp ứng nhu cầu của các đối tượng thiếu vốn trong nền kinh tế hoặc NH cũng đem đi đầu tư để sinh lời. Như vậy chính phần tiết kiệm của hộ gia đình đã đóng vai trò như một nguồn cung ứng vốn vay cho nền kinh tế.
Khi lãi suất càng cao, thì các hộ gia đình 123doc -3- sẽ tiết kiệm càng nhiều để hưởng lãi suất. Do đó, đường cung vốn vay sẽ là một đường dốc lên (kí hiệu là đường S trong hình 1. Cầu về vốn vay bao gồm hai bộ phận: đó chính là tiêu dùng của hộ gia đình và đầu tư của doanh nghiệp. Khi các hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng, mặc dù có thu nhập cao nhưng lại thiếu vốn trong hiện tại, thì họ sẽ sẵn sàng vay vốn và trả lãi (trong khả năng thu nhập tương lai có thể thanh toán được) để không phải trì hoãn mong muốn tiêu dùng của mình.
Tuy nhiên, nếu lãi suất vốn vay ngày càng cao thì các hộ gia đình phải xem xét lại lợi ích mà giảm bớt nhu cầu vay tiền của mình. Cho nên cầu về vốn vay của các hộ gia đình là một hàm nghịch biến của lãi suất (kí hiệu là đường DH trong hình 1.1: Cung và Cầu về vốn vay R Lãi suất S R* DT DH DF Q* Số lượng vốn vay Nguồn: Robert S.Rubinfeld (1999), Kinh tế học vi mô Ngoài ra, bộ phận thứ hai của cầu về vốn vay chính là từ các doanh nghiệp muốn có vốn để đầu tư vào các dự án có lợi nhuận từ hoạt động đầu tư trong tương lai lớn hơn chi phí đã bỏ ra ban đầu (lãi suất vay vốn) để thu lợi. Như vậy nếu lãi suất tăng thì chi phí đầu tư bỏ ra của doanh nghiệp càng lớn và lợi tức mà doanh nghiệp nhận về sẽ càng nhỏ, do đó các hãng sẽ giảm đầu tư và nhu cầu về vốn vay cũng giảm theo. 123doc -4- Như vậy, cầu về vốn của vay các hãng là một đường dốc xuống (kí hiệu là đường DF).
Tổng cầu về vốn vay chính là tổng của cầu của các hộ gia đình và các doanh nghiệp, trong hình 1.1 tổng cầu được minh hoạ bằng đường DT. Đường tổng cầu này kết hợp với đường cung sẽ quyết định mức lãi suất cân bằng - R* (hình 1.3 Phân loại lãi suất Như hình 1.1, sự kết hợp giữa đường cầu và đường cung đơn lẻ chỉ có một mức “lãi suất thị trường”, nhưng trên thực tế là có rất nhiều mức “lãi suất thị trường” do các hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ đều vay và cho vay theo nhiều điều kiện và kỳ hạn khác nhau. Ngoài ra, trong nền kinh tế còn tồn tại các loại “lãi suất điều hành” do Nhà Nước mà đại diện là NHTW quy định nhằm điều tiết “lãi suất thị trường” từ đó thực hiện điều hành CSTT theo đúng định hướng và mục tiêu đã đề ra. Trên thực tế, lãi suất có nhiều cách phân chia khác nhau như: phân loại theo nội tệ và ngoại tệ, phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD, phân loại theo chủ thể trong quan hệ cho vay, phân loại theo giá trị thực của tiền lãi thu được, phân loại theo tính linh hoạt của lãi suất, phân loại theo thời hạn cho vay, v.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, lãi suất được phân loại thành 2 nhóm: 1.1 Nhóm “lãi suất thị trƣờng” đƣợc hình thành từ quan hệ cung – cầu vốn vay Lãi suất tiền gửi NH hay còn gọi Lãi suất huy động: là loại lãi suất mà các NHTM trả cho các khoản tiền gửi vào NH. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào các loại tiền gửi: không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm… Trật tự lãi suất tiền gửi được hình thành theo nguyên tắc: Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn > Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Lãi suất tín dụng NH hay còn gọi Lãi suất cho vay: là loại lãi suất mà người vay vốn phải trả cho NH khi vay vốn từ NH. Lãi suất tín dụng NH có nhiều loại tùy theo các loại hình vay: ngắn hạn, dài hạn; có tài sản đảm bảo, không có tài sản đảm bảo… Về nguyên tắc: Lãi suất tín dụng NH > Lãi suất tiền gởi NH; Lãi suất cho vay 123doc -5- dài hạn > Lãi suất cho vay ngắn hạn; Lãi suất cho vay tiêu dùng > Lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh.
Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất được các NHTM áp dụng khi cho khách hàng vay nợ dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá khi chưa đến kỳ hạn thanh toán. Lãi suất chiết khấu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi NH cho khách hàng vay. Như vậy, lãi suất chiết khấu là loại lãi suất trả trước mà người đi vay trả cho NH trước khi sử dụng tiền vay. Lãi suất liên ngân hàng: Là lãi suất cho vay giữa các NHTM trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất LNH được hình thành theo quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các NHTM vay của NHTW (LSTCV và LSTCK) 1.2 Nhóm “lãi suất điều hành” do Ngân hàng Trung ƣơng công bố đƣợc sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ Các loại lãi suất này không được xác định chủ yếu theo quan hệ cung – cầu về vốn mà được NHTW xác định tùy thuộc vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHTW, sự biến động của thị trường tài chính và nền kinh tế vĩ mô. Nhóm lãi suất này bao gồm: Lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu: áp dụng khi NHTW cho các NHTM vay dưới hình thức chiết khấu hoặc chiết khấu lại các thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này. Lãi suất chiết khấu, LSTCK được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi NHTW cho các NHTM vay. Lãi suất tái cấp vốn: là lãi suất được sử dụng trong trường hợp NHTW tái cấp vốn cho các NHTM.