Chương 1, cũng như nhằm phù hợp với dữ liệu được thu thập, tác giả đã tiếp tục sử dụng một số loại biến khác dé thêm vào mô hình, gồm: Nhóm nhân tố bên trong: Quy mô (SIZE), Kha năng sinh lời của ngân hang (ROE), Tỷ lệ cho vay khách hàng trên tổng tài sản của ngân hàng (LTA), Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu (D/E), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hang (CAP). Nhóm nhân tố bên ngoài: Tăng trưởng GDP (GGDP), Lãi suất tiền gửi (BR). Khả năng thanh khoản (LIQ) là biến phụ thuộc được đo lường theo chỉ số LI được xác định bởi Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản. Phương án phân tích như sau: hàng thương mại Việt Nam.
14 Biến phụ thuộc Kha năng thanh khoản (LIQ - Liquidity) Nhu đã trình bay ở trên, việc do lường kha năng thanh khoản của ngân hang, thường sử dụng 4 chỉ số. Tuy nhiên, tác giả đã quyết định sẽ sử dụng tỷ số LI, được tính bởi Tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản của ngân hang dé làm biến phụ thuộc trong quá trình nghiên cứu. Lựa chọn trên được đưa ra dé phù hợp với điều kiện thu thập số liệu và nhằm thé hiện mức độ dự trữ thanh khoản của ngân hàng thương mại trong tổng quy mô vốn của nó. Công thức được sử dụng là: tài sản thanh khoản LIQ = tổng tài sản tiền mặt + các khoản tương đương tiền + tiền gửi ở các tổ chức tín dụng khác tổng tài sản Tài sản thanh khoản được định nghĩa là những tài sản có khả năng dễ dàng chuyên đổi thành tiền mặt, bao gồm: tiền mặt, tiền gin tại các tô chức tín dụng khác, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chứng khoán kinh doanh, cho vay các tô chức tín dụng khác được sử dụng dé trả hoặc tài trợ cho khách hàng, tất cả đều phản ánh mức độ thanh khoản.
LIQ được dùng làm biến phụ thuộc dé chứng minh cho khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại, bởi vì nó phù hợp với điều kiện số liệu thu thập và thê hiện rõ nét mức độ dự trữ thanh khoản của ngân hàng thương mại theo tổng quy mô hoạt động. Biến độc lập Quy mô ngân hang (SIZE) Đề đo quy mô của một ngân hang, ta sử dụng tổng tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên, giá trị của tông tài sản thường rat lớn so với các biến khác trong mô hình, vi vậy, tác giả đã sử dụng logarit cơ số 10 dé thu hẹp phạm vi giá trị và làm dữ liệu trơn tru hơn dé tính toán các phân tích dé dang hơn. SIZE = logo (tong tài sản) 15 Quy mô ngân hàng lớn có thé đem lại nhiều lợi ích về khả năng thanh khoản, trong đó có khả năng mở rộng hoạt động giao dịch của ngân hàng trên thị trường.
Khi quy mô ngân hàng lớn, ngân hàng có khả năng thu hút được nhiều khách hàng và giao dịch lớn hơn, từ đó tăng cường thanh khoản bằng việc tăng số lượng và giá trị các giao dịch. Quy mô lớn cũng đồng nghĩa với việc có nhiều nguồn vốn lớn hơn đề đáp ứng nhu cầu của khách hàng, từ đó giúp ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ tài chính và cho vay nhiều hơn, cũng như tăng cường sự đa dạng hóa các sản phẩm tài chính. Điều này cũng giúp tăng cường thanh khoản bằng cách tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ khác nhau, giúp ngân hàng thu hút được nhiều đối tác và khách hàng khác nhau. Tuy nhiên, đồng thời quy mô lớn cũng đòi hỏi ngân hàng có kỹ năng và kinh nghiệm quản lý rủi ro tốt hơn dé dam bảo thanh khoản của ngân hàng trong trường hợp có thi trường bị suy thoái hoặc khách hàng rút tiền đột ngột.
Tuy nhiên, sự tăng quy mô ngân hàng cũng có thé dẫn đến một số van dé, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khi quy mô ngân hàng quá lớn, tỷ lệ các khoản vay dai hạn trong tài sản của ngân hàng có thé tăng, trong khi các khoản vay ngắn han lại giảm. Điều này có thé dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc thu hồi tiền từ các khoản vay dài hạn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tóm lại, quy mô ngân hàng có ảnh hưởng đối với khả năng thanh khoản của ngân hang và ảnh hưởng này có thé cùng chiều hay ngược chiều phụ thuộc trên nhiều nhân tô quan trọng bao gồm tỷ lệ các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, số khách hàng và SỐ giao dịch tại ngân hàng.
Tuy nhiên, dựa trên tình hình thực tế hiện nay của một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam, nghiên cứu mong quy mô ngân hàng có tương quan cùng chiều với khả năng thanh khoản của ngân hàng. Giả thuyết 1: Khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tăng khi quy mô của ngân hàng càng tăng. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hang (CAP) Là một chỉ số được tinh theo tỷ số giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng và tông huy động vôn của ngân hàng. Định nghĩa như sau: 16 tổng uốn CSH CAP =—- RU tổng nguồn uốn Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ngân hàng khỏi rủi ro và tăng cường sức mạnh tài chính. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng cao thì ngân hàng có khả năng thanh khoản cao hơn, bởi vì sẽ có nhiều nguồn vốn dé bảo đảm thanh toán. Khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng lớn, ngân hàng sẽ có mức độ đòn bây tài chính thấp hơn, tức là ngân hàng sử dụng ít hơn số tiền vay của bên thứ ba để tài trợ các hoạt động. Điều này cho thấy ngân hàng có nhiều vốn chủ sở hữu và ít phải tài trợ từ bên ngoài, giúp ngân hàng tăng khả năng thanh khoản bằng cách giảm thiêu rủi ro và tăng độ tin cậy của khách hàng.
Ngoài ra, tỷ lệ này càng lớn sẽ giúp nâng cao khả năng kiểm soát tốt hơn các rủi ro tài chính và giữ lại nhiều tiền dé đáp ứng các yêu cầu thanh toán khan cấp. Như vậy, tác giả kỳ vọng CAP sẽ có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mai. Giá thuyết 2: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng cao, khả năng thanh khoản ngân hàng càng lớn. Tỷ lệ cho vay khách hàng trên tong tài san của ngân hang (LTA) Công thức: Lra= tổng cho uay khách hàng tổng tài sản Tỷ lệ cho vay khách hàng trên tổng tài sản của ngân hàng cho biết ty lệ phần trăm của khoản nợ ngân hàng đã cho vay cho khách hàng tương ứng với tổng tài sản của ngân hàng.
Khi LTA ngày càng cao, nhiều ngân hàng đã cho vay một phần tài sản của mình cho khách hàng, dẫn đến việc thiếu vốn nhăm tiến hành những giao dịch thanh toán bên trong ngân hàng, và như vậy sẽ giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khi khách hàng rút vốn hoặc tiến hành một số hoạt động thanh toán, ngân hàng cần có thêm nhiều nguồn lực tài chính dé đáp ứng nhu cầu của khách hang và nếu không có đủ tiền mặt thì ngân hàng sẽ phải bán tài sản nhằm có tiền mặt. Tuy nhiên, khi LTA ngày càng cao, ngân hàng sẽ có thêm tải sản phải bán và như vậy khả năng 17 bán nợ đề có tiền mặt thanh toán sẽ giảm. Đông thời cũng dẫn đến rủi ro lãi suất cao lên, vì sẽ phải có nguôn vôn dự trữ nhăm ứng phó với những khoản nợ đáo hạn.
Điêu này cũng dẫn đến giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng, vì ngân hàng đã phải chi thêm tiên nhăm cân đôi nguôn dự trữ. Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả dự kiến tăng tỉ lệ LTA sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đối với khả năng thanh khoản. Giả thuyết 3: Khả năng thanh khoản của ngân hàng thấp đi khi tỷ lệ cho vay khách hàng trên tổng tài sản của ngân hàng tăng lên. Tỷ lệ nợ phải trả trên von chủ sở hữu (D/E) Đề phản ánh mức độ tài chính của ngân hàng và do đó nhà đầu tư cũng thường dùng tỷ lệ nợ phải thanh toán trên vốn chủ sở hữu để so sánh.
D/E thê hiện mức độ tài chính của doanh nghiệp đang nợ và nó càng cao thì nguy cơ thất thoát vốn và khả năng thanh toán nợ càng cao và được tính theo công thức: D/E = tổ ong nợp hải ai trả tra tổng uốn CSH Đây là một chỉ số quan trọng trong đánh giá mức độ an toàn của ngân hàng. Khi tỷ lệ trên quá cao, điều đó có nghĩa là ngân hàng đang sử dụng một phần lớn vốn chủ sở hữu nhằm trang trải cho những khoản nợ phải trả của khách hàng. Điều này có thể đặt ngân hàng ở trạng thái rủi ro cao hơn nữa đối với khả năng đảm bảo thanh khoản và đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng. Ngoài ra, nếu tình hình tài chính xấu hơn hoặc tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao sẽ làm giảm sút khả năng của ngân hàng trong việc đối mặt với khó khăn và giải quyết những khoản nợ vay quá thời hạn.
Khi ấy, ngân hàng có thể phải bán tài sản nhằm thu tiền mặt, và điều này sẽ dẫn đến việc giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng. Ngoài ra, Nguyễn Thị Mỹ Linh (2016) cũng cho biết D/E có ảnh hưởng xấu đối với khả năng thanh khoản của ngân hàng. Vậy cho nên, bài nghiên cứu kỳ vọng về khả năng thanh khoản và tỷ lệ nợ phải trả trên vôn chủ sở hữu có sự tương quan ngược chiêu. Giả thuyết 4: Tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu càng lớn thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng thấp.
18 Khả năng sinh lời của ngân hàng (ROE) Là lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu. ROE thường được sử dụng đề đo lường khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp bang cách so sánh lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp đạt được với số tiền vốn mà các cổ đông đã đầu tư vào doanh nghiệp đó. ROE = lợi nhuận sau thuế _ tổng uốn CSH ROE là chỉ tiêu được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trước đây dé đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa ROE và khả năng thanh khoản: Bonfim & Kim (2011) và Vũ Thị Hồng (2015) cho thay mối liên hệ thuận chiều giữa khả năng thanh khoản của ngân hàng va ROE.