Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò là trung gian tài chính huyết mạch, quyết định tính ổn định tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các thị trường mới nổi. Tại Việt Nam, sau giai đoạn tăng trưởng nhanh 2000–2010, hệ thống NHTM bước vào quá trình tái cơ cấu toàn diện nhằm củng cố năng lực tài chính và xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015" và Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Từ năm 2016 đến nay, các NHTM tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, các biến cố kinh tế toàn cầu cùng đại dịch Covid-19 đã làm gia tăng sự bất định trong điều hành chính sách vĩ mô, khiến các chủ thể kinh tế thiếu hụt thông tin trong việc ra quyết định kinh doanh. Trong khi các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào các yếu tố nội tại của ngân hàng và biến số vĩ mô cơ bản (GDP, lạm phát), tác động của bất định chính sách kinh tế (Economic Policy Uncertainty - EPU) và rủi ro chính trị (Political Risk - PR) đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn chưa được kiểm chứng thực nghiệm đầy đủ.
Khóa luận xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Phân tích các yếu tố bất định chính sách kinh tế của Châu Á và thế giới tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định tác động của các yếu tố bất định chính sách, bao gồm bất định chính sách kinh tế thế giới (GEPU) và Châu Á (AEPU) ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam.
- Đo lường chiều hướng và mức độ tác động của các yếu tố nội tại và vĩ mô, bao gồm bất định chính sách kinh tế, tới hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị phù hợp dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động của NHTM trong thời gian tới.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Liệu bất định chính sách kinh tế toàn cầu và bất định chính sách kinh tế châu Á có tác động tới hiệu quả hoạt động của NHTM tại Việt Nam hay không?
- Các yếu tố bất định chính sách kinh tế thế giới và châu Á ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NHTM Việt Nam như thế nào?
- Đề xuất nào là phù hợp dựa trên kết quả nghiên cứu để các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động NHTM Việt Nam trong thời gian tới?
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của bất định chính sách kinh tế toàn cầu và châu Á đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Mẫu nghiên cứu gồm 23 NHTM tại Việt Nam có báo cáo tài chính đầy đủ trong giai đoạn nghiên cứu. Tổng tài sản của 23 NHTM này tính đến ngày 31/12/2020 đạt 8.873.073 tỷ đồng, chiếm 83,29% trong tổng số 10.652.207 tỷ đồng tổng tài sản của toàn bộ 31 NHTM tại Việt Nam, bảo đảm tính đại diện cao cho hệ thống ngân hàng.
- Thời gian: Giai đoạn 14 năm, từ năm 2008 đến năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm và mô hình kinh tế lượng đã được công nhận trong y văn tài chính - ngân hàng quốc tế:
- Khái niệm và đo lường bất định chính sách kinh tế (EPU): Theo Baker, Bloom & Davis (2016) và Davis (2016), EPU phản ánh những thay đổi không dự đoán trước được về chính sách kinh tế của chính phủ và cơ quan quản lý, được đo lường thông qua kỹ thuật khai phá dữ liệu văn bản (text-mining) trên các ấn phẩm truyền thông, độ lệch trong dự báo kinh tế vĩ mô và các điều khoản luật thuế sắp hết hạn. Chỉ số bất định chính sách kinh tế toàn cầu (GEPU) được tổng hợp bình quân theo GDP của 16 quốc gia lớn. Chỉ số bất định chính sách kinh tế châu Á (AEPU) được tính bằng giá trị bình quân của 4 quốc gia có quan hệ kinh tế - thương mại mật thiết với Việt Nam gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore.
- Hiệu quả hoạt động ngân hàng: Dựa trên quan điểm tiếp cận hoạt động của Farrell (1957), Peter S. Rose, Leightner & Lovell (1998) và Trương Quang Thông (2011), hiệu quả của NHTM phản ánh năng lực tối ưu hóa đầu vào để tạo ra lợi nhuận đầu ra cao nhất trong giới hạn rủi ro cho phép. Khóa luận kế thừa nghiên cứu của Seyed Alireza Athari (2016), đo lường hiệu quả hoạt động thông qua hai chỉ tiêu tỷ suất sinh lời:
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân: $\text{ROAA} = \frac{\text{Lợi nhuận sau thuế}}{\text{Tổng tài sản bình quân}}$
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu: $\text{ROEA} = \frac{\text{Lợi nhuận sau thuế}}{\text{Vốn chủ sở hữu}}$
| Nhóm biến |
Tên biến |
Ký hiệu |
Cách tính toán |
Kỳ vọng dấu |
| Biến phụ thuộc |
Tỷ suất sinh lời trên tài sản |
ROAA / ROA |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản |
- |
|
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu |
ROEA / ROE |
Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu |
- |
| Đặc trưng ngân hàng |
Quy mô ngân hàng |
SIZE |
Logarit tự nhiên của tổng tài sản ($\ln(\text{TA})$) |
$+$ |
|
Mức độ an toàn vốn |
TE/TA |
Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản |
$+$ |
|
Tính thanh khoản |
LA/TA |
Tài sản lưu động / Tổng tài sản |
$+$ |
|
Tỷ lệ cho vay |
TL/TA |
Tổng dư nợ cho vay / Tổng tài sản |
$-$ |
|
Rủi ro tín dụng |
DB/TL |
Nợ xấu / Tổng dư nợ |
$-$ |
|
Chi phí hoạt động |
C/I |
Tổng chi phí hoạt động / Tổng thu nhập hoạt động |
$-$ |
| Biến vĩ mô & bất định |
Tăng trưởng kinh tế |
GDP |
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm $(\frac{\text{GDP}n}{\text{GDP}{n-1}} - 1)$ |
$+$ |
|
Chỉ số giá tiêu dùng |
CPI |
Tỷ lệ lạm phát / CPI hàng năm |
$-$ |
|
Bất định chính sách toàn cầu |
LGEPU |
Logarit tự nhiên trung bình 12 tháng của chỉ số GEPU |
$-$ |
|
Bất định chính sách Châu Á |
LAEPU |
Logarit tự nhiên trung bình năm chỉ số EPU của 4 nước Châu Á |
$-$ |
|
Điểm rủi ro chính trị |
PR |
Điểm rủi ro chính trị theo PRS Group (thang 0–100) |
$-$ |
Khóa luận thiết lập 4 phương trình hồi quy dữ liệu bảng:
$$\text{Mô hình 1: } \text{ROAA}{it} = c + \alpha_1 \text{SIZE}{it} + \alpha_2 \frac{\text{LA}}{\text{TA}}{it} + \alpha_3 \frac{\text{TE}}{\text{TA}}{it} + \alpha_4 \frac{\text{TL}}{\text{TA}}{it} + \alpha_5 \frac{\text{DB}}{\text{TL}}{it} + \alpha_6 \frac{\text{C}}{\text{I}}_{it} + \alpha_7 \text{PR}_t + \alpha_8 \text{CPI}_t + \alpha_9 \text{LGEPU}t + \alpha{10} \text{GDP}t + \varepsilon{it}$$
$$\text{Mô hình 2: } \text{ROEA}{it} = c + \alpha_1 \text{SIZE}{it} + \alpha_2 \frac{\text{LA}}{\text{TA}}{it} + \alpha_3 \frac{\text{TE}}{\text{TA}}{it} + \alpha_4 \frac{\text{TL}}{\text{TA}}{it} + \alpha_5 \frac{\text{DB}}{\text{TL}}{it} + \alpha_6 \frac{\text{C}}{\text{I}}_{it} + \alpha_7 \text{PR}_t + \alpha_8 \text{CPI}_t + \alpha_9 \text{LGEPU}t + \alpha{10} \text{GDP}t + \varepsilon{it}$$
$$\text{Mô hình 3: } \text{ROAA}{it} = c + \alpha_1 \text{SIZE}{it} + \alpha_2 \frac{\text{LA}}{\text{TA}}{it} + \alpha_3 \frac{\text{TE}}{\text{TA}}{it} + \alpha_4 \frac{\text{TL}}{\text{TA}}{it} + \alpha_5 \frac{\text{DB}}{\text{TL}}{it} + \alpha_6 \frac{\text{C}}{\text{I}}_{it} + \alpha_7 \text{PR}_t + \alpha_8 \text{CPI}_t + \alpha_9 \text{LAEPU}t + \alpha{10} \text{GDP}t + \varepsilon{it}$$
$$\text{Mô hình 4: } \text{ROEA}{it} = c + \alpha_1 \text{SIZE}{it} + \alpha_2 \frac{\text{LA}}{\text{TA}}{it} + \alpha_3 \frac{\text{TE}}{\text{TA}}{it} + \alpha_4 \frac{\text{TL}}{\text{TA}}{it} + \alpha_5 \frac{\text{DB}}{\text{TL}}{it} + \alpha_6 \frac{\text{C}}{\text{I}}_{it} + \alpha_7 \text{PR}_t + \alpha_8 \text{CPI}_t + \alpha_9 \text{LAEPU}t + \alpha{10} \text{GDP}t + \varepsilon{it}$$
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 15.1 để thực hiện hồi quy dữ liệu bảng. Quy trình ước lượng đi từ bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tác giả thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM, kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) để kiểm tra đa cộng tuyến, kiểm định Breusch-Pagan để phát hiện phương sai sai số thay đổi và kiểm định Wooldridge đối với hiện tượng tự tương quan. Khi mô hình xuất hiện các khuyết tật về phương sai thay đổi và tự tương quan, phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares - FGLS) được áp dụng để cho ra kết quả ước lượng vững và không chệch.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu tài chính thứ cấp thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2008–2021 của 23 NHTM; dữ liệu GDP, CPI thu thập từ Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; dữ liệu GEPU và AEPU từ cổng thông tin Economic Policy Uncertainty; dữ liệu điểm rủi ro chính trị (PR) thu thập từ tổ chức Political Risk Services (PRS Group).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Lý do chọn đề tài
Chương 1 thiết lập tổng thể đề tài nghiên cứu. Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc đánh giá khả năng sinh lời của NHTM trong bối cảnh tái cơ cấu ngành ngân hàng gắn với Quyết định 254/QĐ-TTg và 734/QĐ-NHNN, chỉ ra khoảng trống nghiên cứu khi các nghiên cứu trong nước chưa xem xét đầy đủ tác động của bất định chính sách kinh tế quốc tế. Chương này xác định rõ 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi chọn mẫu gồm 23 NHTM giai đoạn 2008–2021 chiếm 83,29% tổng tài sản toàn ngành, cùng đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về bất định chính sách kinh tế và hiệu quả hoạt động ngân hàng
Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận và các công trình thực nghiệm. Tác giả làm rõ bản chất của bất định chính sách kinh tế (EPU), phương pháp đo lường EPU dựa trên khai phá văn bản của Baker et al. (2016), và diễn biến chỉ số GEPU từ năm 1997 đến năm 2020 với các đỉnh điểm trong khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009, Brexit 2016 và đại dịch Covid-19 cuối năm 2019. Chương này tổng kết các lý thuyết về hiệu quả hoạt động NHTM (Farrell, 1957; Peter S. Rose), phương thức đo lường qua ROAA và ROEA, cùng cơ chế tác động của 6 nhân tố nội tại (thanh khoản LA/TA, vốn chủ sở hữu TE/TA, chất lượng tài sản TL/TA, quy mô SIZE, rủi ro tín dụng DB/TL, chi phí hoạt động C/I) và 5 nhân tố bên ngoài (PR, GDP, CPI, GEPU, AEPU). Tác giả tổng quan các nghiên cứu quốc tế (Athari, 2016; Flamini et al., 2009; Bougatef, 2017) và nghiên cứu tại Việt Nam (Lê Tấn Phước & Bùi Xuân Diễn, 2016; Hồ Thị Lam et al., 2017) để làm tiền đề xây dựng giả thuyết nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu chuẩn qua 8 bước: từ xác định mục tiêu, tổng quan lý thuyết, xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu, thống kê mô tả, kiểm định khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi), ước lượng FGLS đến thảo luận kết quả và khuyến nghị. Tác giả định nghĩa chi tiết công thức tính toán, bản chất kinh tế và kỳ vọng dấu của từng biến giải thích; thiết lập 4 phương trình hồi quy đối với 2 biến phụ thuộc (ROAA, ROEA) tương ứng với 2 chỉ số bất định chính sách (LGEPU, LAEPU); đồng thời giải trình lý do lựa chọn mô hình FGLS nhằm khắc phục các khuyết tật của Pooled OLS, FEM và REM.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả, ma trận tương quan giữa các biến và kiểm định hệ số VIF (đều nhỏ hơn 10, bác bỏ khả năng đa cộng tuyến nghiêm trọng). Kiểm định Hausman, kiểm định Breusch-Pagan và kiểm định tự tương quan cho thấy các mô hình ban đầu vi phạm giả định về phương sai đồng nhất và không có tự tương quan, khẳng định sự cần thiết của ước lượng FGLS (Bảng 15, Bảng 20, Bảng 25, Bảng 30 trong văn bản). Tác giả tiến hành thảo luận chi tiết mối quan hệ giữa các biến với ROAA và ROEA, so sánh kết quả thực nghiệm với các giả thuyết ban đầu và đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Chương 5 tóm lược các phát hiện cốt lõi từ kết quả ước lượng mô hình FGLS, khẳng định vai trò chi phối của các nhân tố quản trị nội bộ và biến động chính sách kinh tế khu vực châu Á đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống khuyến nghị quản trị cho ban điều hành các NHTM và đề xuất chính sách vĩ mô cho Ngân hàng Nhà nước cùng Chính phủ; đồng thời trình bày các hạn chế nội tại của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Kết quả ước lượng thông qua mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) đối với 23 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008–2021 đem lại các phát hiện thực nghiệm cụ thể:
| Biến số |
Tác động thực nghiệm đến ROAA / ROEA |
Giải thích kết quả theo dữ kiện trong văn bản |
| Quy mô ngân hàng (SIZE) |
Cùng chiều ($+$) |
Quy mô tổng tài sản lớn mang lại lợi thế kinh tế theo quy mô, tăng cường năng lực huy động vốn và cung ứng dịch vụ tài chính đa dạng. |
| Mức độ an toàn vốn (TE/TA) |
Cùng chiều ($+$) |
Vốn chủ sở hữu cao tạo bộ đệm an toàn tài chính vững chắc, giảm phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài và tăng sức chịu đựng trước khủng hoảng. |
| Tăng trưởng kinh tế (GDP) |
Cùng chiều ($+$) |
Tăng trưởng GDP tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, gia tăng nhu cầu vay vốn và sử dụng dịch vụ ngân hàng, thúc đẩy doanh thu. |
| Bất định chính sách Châu Á (LAEPU) |
Cùng chiều ($+$) |
Biến động chính sách tại 4 đối tác lớn (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore) thúc đẩy sự điều chỉnh chiến lược, dòng vốn tái định vị và mở rộng biên lợi nhuận thích ứng của NHTM Việt Nam. |
| Tỷ lệ nợ xấu (DB/TL) |
Ngược chiều ($-$) |
Nợ xấu gia tăng làm suy giảm chất lượng tín dụng, buộc ngân hàng phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro lớn, trực tiếp bào mòn lợi nhuận ròng. |
| Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (C/I) |
Ngược chiều ($-$) |
Chi phí hoạt động phát sinh cao hơn so với thu nhập thuần làm giảm biên lợi nhuận và hiệu quả vận hành của ngân hàng. |
| Tỷ lệ cho vay (TL/TA) |
Không có ý nghĩa |
Tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản không tác động trực tiếp mang tính quyết định đến ROA, ROE trong giai đoạn nghiên cứu. |
| Tính thanh khoản (LA/TA) |
Không có ý nghĩa |
Tỷ lệ tài sản lưu động trên tổng tài sản không thể hiện mối liên hệ có ý nghĩa thống kê đối với hiệu quả hoạt động của mẫu nghiên cứu. |
| Điểm rủi ro chính trị (PR) |
Không có ý nghĩa |
Mức độ rủi ro chính trị không tạo ra sự biến động đáng kể đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam trong mô hình. |
| Bất định chính sách toàn cầu (LGEPU) |
Không có ý nghĩa |
Chỉ số GEPU không có tác động mang ý nghĩa thống kê đến ROAA và ROEA của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008–2021. |
Từ kết quả thực nghiệm, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị:
- Nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát nợ xấu: Các NHTM cần hoàn thiện quy trình thẩm định tín dụng, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (DB/TL), tăng cường giám sát sau cho vay nhằm giảm thiểu trích lập dự phòng rủi ro và bảo toàn nguồn vốn.
- Gia tăng quy mô vốn chủ sở hữu: Tăng cường tỷ lệ an toàn vốn (TE/TA) thông qua việc giữ lại lợi nhuận để bổ sung vốn tự có, phát hành cổ phiếu hoặc tìm kiếm cổ đông chiến lược, giúp ngân hàng gia tăng năng lực tài chính và khả năng chống chịu các cú sốc thị trường.
- Tối ưu hóa chi phí hoạt động: Tái cấu trúc bộ máy vận hành, áp dụng công nghệ số nhằm kiểm soát và kéo giảm tỷ lệ chi phí trên thu nhập (C/I), nâng cao năng suất lao động.
- Kiến nghị đối với Chính phủ và cơ quan quản lý: Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng GDP; đồng thời Ngân hàng Nhà nước cần nâng cao năng lực theo dõi, dự báo các biến động bất định từ chính sách kinh tế của các quốc gia trong khu vực Châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore) để có chính sách điều hành tiền tệ chủ động, hỗ trợ hệ thống ngân hàng thích ứng an toàn.
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt khoa học: Bổ sung bằng chứng thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam về tác động của chỉ số bất định chính sách kinh tế khu vực (AEPU), toàn cầu (GEPU) và điểm rủi ro chính trị (PR) đến hiệu quả hoạt động của NHTM, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu của các tài liệu trước đó tại các thị trường mới nổi.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản trị ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách vĩ mô trong việc nhận diện các nhân tố rủi ro bên ngoài từ khu vực, từ đó xây dựng các kịch bản quản trị rủi ro và điều hành chính sách tiền tệ phù hợp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Mẫu nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở 23 NHTM do một số ngân hàng không công bố đầy đủ số liệu kiểm toán liên tục trong suốt giai đoạn 2008–2021.
- Chỉ số bất định chính sách kinh tế châu Á (AEPU) mới chỉ đại diện cho 4 quốc gia (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore), chưa bao quát toàn bộ các đối tác thương mại trong khu vực ASEAN.
- Nghiên cứu chưa tiến hành phân tích phân rã theo từng nhóm sở hữu ngân hàng (NHTM Nhà nước và NHTM cổ phần tư nhân) để kiểm tra tính không đồng nhất.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng cỡ mẫu cho toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng khi dữ liệu minh bạch hơn.
- Cập nhật chuỗi thời gian cho các năm tiếp theo nhằm theo dõi tác động dài hạn sau đại dịch Covid-19 và các biến động địa chính trị mới.
- Bổ sung thêm các chỉ số bất định chính sách kinh tế của từng quốc gia đối tác riêng lẻ hoặc áp dụng mô hình phi tuyến tính để kiểm tra độ trễ tác động.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo học thuật cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học ứng dụng khi nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng và ứng dụng kinh tế lượng tài chính.
- Người thực hiện đề tài tương tự có thể kế thừa quy trình nghiên cứu dữ liệu bảng hoàn chỉnh (từ Pooled OLS, FEM, REM, kiểm định khuyết tật đến khắc phục bằng FGLS trên Stata 15.1) và phương pháp tích hợp các chỉ số bất định kinh tế vi mô/vĩ mô dạng text-mining (EPU) vào mô hình tài chính ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu nghiên cứu của khóa luận gồm bao nhiêu ngân hàng và chiếm bao nhiêu phần trăm quy mô toàn ngành?
Mẫu nghiên cứu gồm 23 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008–2021 có báo cáo tài chính kiểm toán đầy đủ. Tổng tài sản của 23 NHTM này đạt 8.873.073 tỷ đồng vào ngày 31/12/2020, chiếm 83,29% trong tổng số 10.652.207 tỷ đồng tổng tài sản của 31 NHTM tại Việt Nam, bảo đảm độ đại diện cao cho hệ thống ngân hàng.
2. Chỉ số bất định chính sách kinh tế Châu Á (LAEPU) trong nghiên cứu được cấu thành từ dữ liệu của những quốc gia nào?
Chỉ số AEPU được tính bằng trung bình chỉ số bất định chính sách kinh tế theo năm của 4 quốc gia có quan hệ kinh tế mật thiết với Việt Nam trong khu vực Châu Á gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Trong mô hình hồi quy, biến này được đưa vào dưới dạng logarit tự nhiên ($\text{LAEPU}$).
3. Kết quả hồi quy FGLS cho thấy yếu tố bất định chính sách nào có tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam?
Kết quả thực nghiệm cho thấy chỉ số bất định chính sách kinh tế Châu Á ($\text{LAEPU}$) có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động (ROAA, ROEA) của các NHTM Việt Nam. Trong khi đó, bất định chính sách kinh tế toàn cầu ($\text{LGEPU}$) và điểm rủi ro chính trị ($\text{PR}$) không có tác động mang ý nghĩa thống kê.
4. Vì sao tác giả sử dụng phương pháp hồi quy FGLS thay vì Pooled OLS, FEM hoặc REM?
Qua các bước kiểm định kinh tế lượng, mô hình xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi (thông qua kiểm định Breusch-Pagan có p-value < 0,05) và hiện tượng tự tương quan. Do các mô hình OLS, FEM, REM không còn cho ra ước lượng hiệu quả, phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) được lựa chọn để khắc phục triệt để hai khuyết tật này, bảo đảm các hệ số hồi quy vững và tin cậy.
5. Các nhân tố nội tại nào của ngân hàng có tác động mạnh nhất đến tỷ suất sinh lời ROA và ROE?
Quy mô ngân hàng ($\text{SIZE}$) và mức độ an toàn vốn ($\text{TE/TA}$) có tác động tích cực (cùng chiều) đến ROA và ROE. Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ($\text{DB/TL}$) và tỷ lệ chi phí trên thu nhập ($\text{C/I}$) có tác động tiêu cực (ngược chiều) làm suy giảm hiệu quả sinh lời của ngân hàng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Xuân Tiến đã phân tích thực nghiệm tác động của bất định chính sách kinh tế và các nhân tố tài chính đến hiệu quả hoạt động của 23 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008–2021. Bằng phương pháp hồi quy FGLS xử lý dữ liệu bảng trên phần mềm Stata 15.1, nghiên cứu chứng minh quy mô, an toàn vốn, tăng trưởng GDP và bất định chính sách châu Á thúc đẩy hiệu quả hoạt động ngân hàng, trong khi nợ xấu và chi phí vận hành gây tác động tiêu cực rõ rệt. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và thực tiễn, cung cấp hàm ý quản trị quan trọng cho các ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý trong việc kiểm soát rủi ro và ứng phó với bất định kinh tế vĩ mô.