LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu của tất cả mọi quốc gia, là thước đo phản ánh quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ, đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Do vậy, ngày nay tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các quốc gia và là mục tiêu hướng đến khi chính phủ các quốc gia tiến hành quản lý và hoạch định các chính sách kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là việc tăng sản lượng quốc gia và sản phẩm bình quân theo đầu người, là việc mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất, tức là tăng GDP (Gross Domestic Product) hoặc GNP (Gross National Product) của một nước (ngày nay người ta đã thay GNP bằng GNI là tổng thu nhập quốc gia).
Tăng trưởng kinh tế cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho một nước nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tạo ra nguồn lực dồi dào phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội lâu dài như nâng cao chất lượng sống, cải thiện môi trường sống, đầu tư cho giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết, dựa vào đó chúng ta có thể thấy được các yếu tố ảnh hưởng như thế nào và mức độ ra sao, tác động của các hiện tượng kinh tế ấy đối với các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở đó đưa ra những chính sách kinh tế hợp lý phục vụ cho mục tiêu kinh tế của từng quốc gia. Từ trước đến nay, có rất nhiều mô hình được đưa ra để giải quyết bài toán tăng trưởng kinh tế sao cho phù hợp với quan sát thực tế nhất. Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế.Mô hình hai khu vực cho rằng tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực nông nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L, labor), yếu tố tăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế.
Tiêu biểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T. Bên cạnh đó, Mô hình Harrod-Domar đưa ra quan điểm nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên, trong khi Mô hình Kaldor khẳng định tăng trưởng kinh tế phụ 1 thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công nghệ. Mô hình Sung Sang Park nói rằng nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư quốc gia cho đầu tư con người, Mô hình Tân cổ điển thì đưa ra giả thiết rằng nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L). Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến mô hình tăng trưởng kinh tế của R.Solow (1956) với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn, và nền kinh tế sẽ đạt trạng thái dừng trong dài hạn.
Lý do bài nghiên cứu sử dụng mô hinh Solow mà không phải bất cứ một mô hình nào khác là do việc sử dụng mô hình R. Solow trong thực tế có thể tách bạch và tính toán được tỷ lệ phần trăm tăng trưởng kinh tế đạt được nhờ nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế hay nhờ có yếu tố phản ánh sự thay đổi về chất của các nguồn lực đầu vào trong tăng trưởng kinh tế. Thông qua mô hình R. Solow có thể dự báo vốn đầu tư, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế thông qua nguồn lực đầu vào và nhân tố tổng hợp (TFP).
Từ đó có thể điều chỉnh nền kinh tế tăng trưởng và phát triển kinh tế theo hoạch định. Nhận thấy những đề tài định lượng sử dụng mô hình Solow và áp dụng vào nền kinh tế Việt Nam là không nhiều, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây từ 2006 đến 2015, bài nghiên cứu hy vọng rằng kết quả lượng hóa dưới đây sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng quan hơn về tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam và thấy rõ các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn này. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu sử dụng mô hình Solow làm công cụ để đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế của một hay một nhóm các quốc gia. Bài nghiên cứu(MILTON BAROSSI-FILHO, 2005) đã xây dựng mô hình và chỉ ra những điểm hạn chế trong mô hình Solow.
Bài viết của(Rao, 2007)cho người đọc cái nhìn tổng quan nhất về các mô hình tăng trưởng kinh tế ứng dụng kinh tế lượng được sử dụng rộng rãi hiện nay. Hay trong bài viết của (Das, 2013) đã thực hiện lượng hóa mô hình Solow với mẫu chuối thời gian của 20 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD). 2 Đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế đã thu hút không ít sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế với khá nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, nhiều luận án tiến sỹ, thạc sỹ…. Ví dụ như (Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú, n.TS Phạm Thị Cành, 2004).
Và điển hinh trong số đó là đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ 2004-2005 “Mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow và khả năng áp dụng vào đánh giá tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” do PGS.TS Võ Văn Đức chủ nhiệm. Đề tài đã cung cấp phân tích chuyên sâu việc ứng dụng mô hình Solow vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Không chỉ mổ xẻ kĩ càng từng khía cạnh của mô hình Solow, đề tài còn đưa ra đánh giá chi tiết tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1985-2004. Những đề tài được đề cập trên đây tuy còn giữ nguyên vẹn giá trị lý luận nhưng lại không thực sự mang tính cập nhật thực tế.
Hơn thế nữa, theo quan sát của tác giả, không có nhiều đề tài sử dụng công cụ kinh tế lượng để đánh giá định lượng những tác động của các biến số lên tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình Solow ở Việt Nam. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Làm rõ về mặt lý thuyết những khía cạnh cơ bản nhất của mô hình tăng trưởng kinh tế Solow. Giúp người đọc thấy được quy mô và mức độ mà các biến số trong nền kinh tế tác động lên tăng trưởng kinh tế qua phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu lý thuyết mô hình Solow và sử dụng phương pháp OLS để đánh giá tác động của các biến số lên tăng trưởng kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu là các chỉ số như tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, tổng đầu tư toàn xã hội, đầu tư cho phát triển giáo dục, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam từ quý 4 năm 2006 tính đến hết quý 4 năm 2015. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, thu thập số liệu về sự thay đổi của các biến số nêu trên trong thời gian 10 năm, sử dụng phần mềm Eview để phân tích trung bình, độ lệch chuẩn, vẽ đồ thị và tính các hệ số tương quan giữa các biến ngẫu nhiên. 3 Eview là phần mềm thống kê thông dụng, dễ sử dụng trong thực tế nói chung và kinh tế nói riêng. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÔ HÌNH TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ SOLOW CHƢƠNG 2: SỬ DỤNG MÔ HÌNH SOLOW LƢỢNG HÓA CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN QUÝ 4 NĂM 2006 – QUÝ 4 NĂM 2015 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÔ HÌNH TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ SOLOW 1.
MÔ HÌNH SOLOW 1. XÂY DỰNG MÔ HÌNH Theo Cobb-Douglas, hàm sản xuất bậc nhất có dạng: Y = f(K,L) = Kα.Lβ (1) Trong đó: Y: Sản lượng đầu ra K: yếu tố vốn đầu vào L: Yếu tố lao động đầu vào Giả sử hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô, tức α+β = 1. Ta chia cả 2 vế của (1) cho L:. Đặt Y/L = y – sản lượng đầu ra trên 1 lao động đầu vào K/L = k – vốn đầu vào trên 1 lao động đầu vào Ta có: y = f(k,1) = f(k) Mô hình Solow giả định hàm sản xuất trên lao động có đặc điểm quen thuộc là năng suất biên của vốn giảm dần:f’(k)>0 và f’’(k)<0.1: Mối liên hệ giữa sản lƣợng trên một lao động và vốn trên một lao động Sản lƣợng trên lao động Vốn trên lao động Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1.
GIẢ ĐỊNH MÔ HÌNH Mô hình được xây dựng dựa trên các giả định sau đây: Thứ nhất, nền kinh tế do một hộ gia đình đại diện sản xuất duy nhất một loại hàng hóa với sản lượng đầu ra Y bằng công nghệ sản xuất Cobb-Douglas, sử dụng 2 yếu tố đầu vào là Lao động (L) và Vốn (K). Lao động là yếu tố thiết yếu, nếu không có lao động thì sẽ không có đầu ra và lao động tăng trưởng với tốc độ cho trước là n, tức hàm số dạng L(t)= L(0)ent. Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Vốn được thể hiện ở khía cạnh vật chất bởi: nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, công cụ lao động… được sử dụng làm yếu tố đầu vào sản xuất.
Điểm đặc biệt là hàm Cobb-Douglasnày có độ co dãn thay thế bằng 1 do vậy cho phép các nhân tố sản xuất có thể thay thế cho nhau. Đặc điểm quan trọng tiếp theo của hàm sản xuất sử dụng trong mô hình là thu nhập của từng nhân tố chính bằng độ co dãn đầu ra theo từng nhân tố đó và tổng thu nhập của các nhân tố bằng 1. Thứ hai, hàm sản xuất sử dụng trong mô hình Solow có hiệu suất không đổi theo quy mô (do α+β=1) với các nhân tố sản xuất có năng suất biên giảm dần (0<α,β<1). Với cung lao động cố định việc tăng thêm máy móc cho quá trình sản xuất làm tăng sản lượng trên lao động (y).
Tuy nhiên khi bố trí thêm nhiều máy móc hơn cho những người lao động này thì mức tăng sản lượng của từng đơn vị máy mới sẽ ngày càng nhỏ 6 dần.