đặt vấn đề về mối quan hệ giữa cung tiền và giá cả. Mô hình Fisher: M.V/Y Khi Y và V không đổi thì P phụ thuộc vào M, như vậy theo lý thuyết cổ điển giá cả phụ thuộc vào cung tiền. Khi lượng tiền tệ tăng lên thì mức giá cũng tăng lên, lạm phát xảy ra. Milton Fried đưa ra nguyên tắc: Cung tiền tệ tăng một tỷ lệ nhất định tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng kỳ vọng thì giá cả sẽ không tăng.
Chỉ khi nào tích M.V tăng nhanh hơn tốc độ tăng của sản lượng thì lạm phát mới xảy ra. Biện pháp kiểm soát lạm phát 1. Chính sách tài khóa Chính sách tài khóa dựa trên các công cụ là chi tiêu chính phủ và thuế. Chi tiêu chính phủ bao gồm chi đầu tư công và chi tiêu dùng công.
Khi nền kinh tế lạm phát chính phủ cần thực hiện chính sách tài khóa thu hẹp cụ thể là giảm chi tiêu và tăng thuế. Giảm chi tiêu chính phủ làm giảm tổng cầu làm giá hàng hóa giảm theo, từ đó làm giảm áp lực lên lạm phát. Tăng thuế làm thu nhập khả dụng của người dân giảm do phải nộp thuế cao hơn trong điều kiện thu nhập không đổi, từ đó làm chi tiêu tiêu dùng giảm kéo theo tổng cầu giảm, tạo áp lực lên giảm giá cả hàng hóa và dịch vụ. Chính sách tiền tệ Công cụ của chính sách tiền tệ bao gồm: Lãi suất chiết khấu (là lãi ngân hàng trung ương cho vay NHTM), yêu cầu dự trữ bắt buộc (tỷ lệ mỗi một khoản tiền gửi mà NHTM được yêu cầu giữ lại trong dự trữ) và điều hành hoạt động thị trường mở (mua bán các chứng khoán tài chính trên thị trường mở).
Bảng tổng hợp ba công cụ của chính sách tiền tệ. Lãi suất chiết khấu ↑ lãi suất chiết khấu → ↓vay bởi các NHTM → ↓cơ sở tiền → ↓cung tiền ↓ lãi suất chiết khấu → ↑vay bởi các NHTM → ↑cơ sở tiền → ↑cung tiền Yêu cầu dự trữ 13 ↑ yêu cầu dự trữ → ↑rò rỉ → ↓số nhân tiền → ↓cung tiền ↓ yêu cầu dự trữ → ↓rò rỉ → ↑số nhân tiền → ↑cung tiền Điều hành hoạt động thị trường mở Mua trên thị trường mở → Bơm vào thanh khoản→ ↑cơ sở tiền→ ↑cung tiền Bán trên thị trường mở → rút vào thanh khoản→ ↓cơ sở tiền→ ↓cung tiền Ba công cụ của chính sách tiền tệ tập trung vào điều tiết cung tiền. Việc tăng/ giảm cung tiền theo ý nghĩa về tổng cầu hay theo thuyết định lượng tiền tệ đều làm tăng/giảm lạm phát. Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát cao ngân hàng trung ương thực hiện chích sách tiền tệ thắt chặt bằng cách: Tăng lãi suất chiết khấu Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc Thực hiện nghiệp vụ bán chứng khoán trên thị trường mở.
Kết quả làm cung tiền giảm, lãi suất tăng làm đầu tư giảm kéo tổng cầu giảm tạo áp lực lên giảm giá cả hàng hóa và dịch vụ. Chính sách ngoại thương Bên cạnh việc điều hành lạm phát bằng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, chính phủ cũng có thể quan tâm đến chính sách ngoại thương. Chính sách ngoại thương là những quyết định của chính phủ tác động vào cán cân thương mại quốc gia thông qua chính sách đối với hoạt động xuất 14 nhập khẩu. Nội dung của chính sách ngoại thương gồm có chính sách gia tăng xuất khẩu và chính sách hạn chế nhập khẩu.
Xuất khẩu và nhập khẩu là 2 thành phần của tổng cầu, chính sách của chính phủ tập trung vào gia tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu sẽ làm tổng cầu gia tăng từ đó làm sản lượng tăng và mức giá chung cũng tăng. Tuy nhiên ý nghĩa quan trọng của chính sách ngoại thương trong điều hành lạm phát là làm sao hạn chế việc nhập khẩu “sự tăng giá” từ bên ngoài vào nền kinh tế, có thể bao gồm các biện pháp sau: - Các doanh nghiệp giảm nhập khẩu nguyên vật liệu, tăng tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất sản phẩm, đa dạng các đối tác nhập khẩu để chủ động về giá nhập khẩu nguyên vật liệu… - Các biện pháp kêu gọi hộ gia đình giảm tiêu dùng hàng nhập khẩu, tăng tiêu dùng hàng nội địa. - Các biện pháp đánh thuế nhẹ đối với nguyên vật liệu nhập khẩu. Về mặt lý thuyết để kiềm chế lạm phát Chính phủ có thể sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt, chính sách tiền tệ thắt chặt và cả chính sách ngoại thương hoặc kết hợp các chính sách này để tăng hiệu quả, tuy nhiên từ lý thuyết đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách và tình hình cụ thể của các nước là khác nhau.
Bên cạnh đó còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách như tình trạng độc quyền về giá, tham nhũng, sử dụng vốn nhà nước không hiệu quả, yếu tố lạm phát kỳ vọng…. Các nghiên cứu thực nghiệm về lạm phát 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Cheng Hoon Lim và Laura Papi (1997) tiến hành kiểm tra các nguyên nhân gây nên lạm phát tại Thổ Nhĩ Kỳ bằng việc sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô đa nhân tố trong suốt giai đoạn 1970 – 1995. Mô hình lạm phát trong dài hạn như sau: P= 1E+ 2M+ 3W + 4 Px + 5Pr + e Bao gồm các biến:Giá cả trong nước P; Tỷ giá hối đoái E;Cung tiền M;Giá cả hàng hóa xuất khẩu Px;Giá nhập khẩu đầu vào Pr và Tiền lương lao động danh nghĩa W.
Nghiên cứu phát hiện các biến liên quan đến tiền tệ như cung tiền và tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong tác động đến lạm phát, thâm hụt ngân sách cũng tạo áp lực lên lạm phát và các yếu tố quán tính cũng quan trọng. Bogdan Lissovolik nghiên cứu các yếu tố quyết định lạm phát tại Ukraine giai đoạn 1993 - 2002, đặc biệt chú trọng giai đoạn có mức lạm phát vừa và thấp là 1996 - 2002. Kết quả cho thấy trong ngắn hạn là các yếu tố tiền tệ và trong dài hạn là tỷ giá hối đoái và lương là ảnh hưởng đến lạm phát. Ilker Domac and Carlos Elbirt nghiên cứu lạm phát tại Albania theo 3 hướng tiếp cận khác nhau, bao gồm hướng thứ nhất là nghiên cứu 4 thành tố: khuynh hướng, mùa vụ, tuần hoàn và ngẫu nhiên; hướng thứ 2 sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger với dự liệu là CPI và các biến 16 kinh tế chính khác, hướng thứ 3 là áp dụng mô hình ECM và kiểm định đồng tích hợp bằng một mô hình lý thuyết đơn giản.
Đối với hướng tiếp cận thứ 2 khi sử dụng kiểm định nhân quả Granger, kết quả chỉ ra rằng, cung tiền M1 (tiền trong lưu thông cộng với tiền thanh toán) và tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng đối với CPI. Đối với việc kiểm định đồng tích hợp và áp dụng mô hình ECM thì trong dài hạn lạm phát biến động dương với cung tiền và tỷ giá hối đoái trong khi quan hệ nghịch biến với thu nhập thực. Looney (1990) nghiên cứu trường hợp Saudi Arabia, đo lường tác động của đầu tư công lên lạm phát trong khoảng thời gian từ 1960-1985. Tác già xây dựng hàm hồi quy đa biến cho cho cả hai chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số GDP hiệu chỉnh lạm phát (GDP Deflator) với các biến giải thích là chỉ số xuất khẩu công nghiệp, GDP thực, đầu tư công và đầu tư tạm thời.
Kết quả cho thấy đầu tư công tác động âm đến lạm phát. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Chu Khánh Lân (2011) về các yếu tố ảnh hưởng lạm phát tại Việt Nam. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến với các biến giải thích là cung tiền, đầu tư xây dựng cơ bản, thâm hụt ngân sách, lãi suất, lạm phát kỳ vọng, giá cả hàng hóa thế giới, tỷ giá hối đoái. Kết quả hồi quy cho thấy cung tiền tác động đến lạm phát sau 1 quý, tăng đầu tư xây dựng cơ bản làm giảm lạm phát ngay trong quý thực hiện, thâm hụt ngân sách làm tăng lạm phát quý hiện tại và quý sau đó, lãi suất có tác động tăng lạm phát ngay lập tức, lạm phát ở Việt Nam có quán tính cao, giá 17 cả hàng hóa thế giới tăng tác động làm tăng lạm phát trong nền kinh tế ngay trong quý, tác động của tỷ giá tới lạm phát là không đáng kể.
Nguyễn Phi Lân (2011) xây dựng hàm cầu tiền, làm cơ sở xác định khối lượng tiền tăng thêm hàng năm trong mục tiêu ổn định giá cả đồng tiền. Các biến ảnh hưởng đến cầu tiền bao gồm GDP, lãi suất, tỷ giá, lạm phát kỳ vọng. m2t = -11,0770 + 2,1307gdpt - 0,7929πt- 1,6040exrt (17,03)*** (-2,37)*** (3,51)*** Kết quả kiểm định bác bỏ giả thiết “chênh lệch cung và cầu tiền không gây ra lạm phát tại Việt Nam” với mức ý nghĩa thống kê 1%. Nghiên cứu của tác giả Vũ Sỹ Cường (2011) với đề tài “Tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ đến lạm phát, mô hình lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam” sử dụng mô hình kiểm định VAR với số liệu Việt Nam giai đoạn 1986 - 2010 với các biến là lạm phát, thâm hụt ngân sách, cung tiền M2 (mô hình 1), sau đó tác giả bổ sung thêm biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (mô hình 2).
Kết quả cho thấy Việt Nam có thể được xếp vào nhóm các quốc gia có chính sách tài khóa chiếm ưu thế. Kết quả hàm ý nếu Việt Nam muốn duy trì lạm phát ở mức thấp thì phải theo đuổi chính sách tài khóa hướng đến kiểm soát chặt tình trạng bội chi ngân sách, cân bằng ngân sách trong dài hạn. Ngoài ra còn có phát hiện cho thấy tốc độ tăng trưởng sản lượng ở Việt Nam có quan hệ với mức độ tăng giá, điều này hàm ý Việt Nam muốn tăng trưởng cao thì sẽ gặp khó khăn trong ổn định mức giá – một dạng của tăng trưởng nóng. 18 Nghiên cứu của tác giả Sử Đình Thành (2012) với đề tài: “Phân tích các yếu tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam”, mô hình hàm giá cả có dạng như sau: CPI = f (M, EX, IM, EM) với CPI là chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền M, tỷ giá hối đoái EX, kim ngạch xuất khẩu EM và nhập khẩu IM.
Trong nghiên cứu tác giả ước lượng mô hình VAR và SVAR, sử dụng tiêu chí ADF (Augment Dickey Fuller) và Philips Person để kiểm định tính dừng các biến chuỗi thời gian, thực hiện kiểm định nhân quả Granger, phân tích phân rã phương sai. Dữ liệu sử dụng là dữ liệu chuỗi thời gian tháng trong giai đoạn 1995-2011.