đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của bài nghiên cứu. 5 Luận văn tốt nghiệp Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các tài liệu có liên quan đến lạm phát, độ mở cửa kinh tế, các mô hình lý thuyết; các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu và các nghiên cứu thực nghiệm đã được các nhà nghiên cứu khác thực hiện. Chương ba trình bày phương pháp nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm, cách thức chọn mẫu, cũng như mô tả về cách đo lường các biến nghiên cứu, đề xuất phương pháp nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và quy trình nghiên cứu. Chương bốn trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và những thảo luận về kết quả nghiên cứu.
Đồng thời, tác động của độ mở cửa kinh tế, các nhân tố vĩ mô khác đến lạm phát cũng sẽ được giải thích. Chương năm trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu có được và thảo luận các kết quả nổi bật, đề xuất một số khuyến nghị đồng thời nêu lên những điểm mới, những hạn chế nghiên cứu và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chương này sẽ trình bày lý thuyết về lạm phát, độ mở của nền kinh tế, bao gồm các khái niệm, phân loại, nguyên nhân và những tổn thất của lạm phát. Bên cạnh đó chương này cũng đưa ra các khái niệm về độ mở của nền kinh tế, mối quan hệ giữa độ mở của nền kinh tế và lạm phát cũng như trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài.
Những vấn đề cơ bản liên quan đến lạm phát 2. Khái niệm về lạm phát Lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế nổi tiếng và được quan tâm nhất từ trước đến nay. Xét trên lý thuyết cũng như thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về lạm phát. Bài nghiên cứu sẽ đưa một số cách định nghĩa thông dụng nhất về lạm phát mà các định nghĩa này được nhiều nhà kinh tế thống nhất và đồng tình.
Trong bộ Tư bản nổi tiếng của mình, Các Mác định nghĩa lạm phát như sau: “Lạm phát là tình trạng khối lượng tiền giấy tràn đầy các kênh lưu thông tiền tệ vượt qua các nhu cầu kinh tế thực tế, làm cho tiền tệ mất giá, là phương tiện phân phối lại thu nhập quốc dân”. Mặt khác, nhà kinh tế học nổi tiếng J. Keynes cho rằng lạm phát là sự vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ…, là sự phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường xuyên… Theo David Begg (2008) thì “Lạm phát là sự gia tăng của mức giá. Lạm phát thuần nhất là mức giá của hàng hóa và nhân tố đầu vào tăng theo cùng tỷ lệ.
Theo Mankiw (1997), lạm phát là một hiện tượng kinh tế mà tại đó mức giá chung của nền kinh tế tăng lên theo thời gian. Theo Friedman (1970) thì “Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ tạo nên sự dư cầu về hàng hóa, tức là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều để theo đuổi một khối lượng hàng hóa có hạn”. “Lạm phát được định nghĩa là sự tăng lên liên tục của mức giá chung hoặc tương đương, lạm phát là sự giảm giá liên tục của giá trị đồng tiền” (Laidler và ctg, 1975). 7 Luận văn tốt nghiệp Theo Pahlavani, Rahhimi and Mohammad (2009) cho rằng sự gia tăng bền vững ở mức giá chung, được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một nét đặc trưng của lạm phát.
Ngoài ra các tác giả còn cho rằng lạm phát có thể là kết quả của nhiều nguồn khác nhau cùng lúc, do đó một lý thuyết duy nhất không thể giải thích đầy đủ về lạm phát. Cuối cùng, theo Nguyễn Như Ý và Trần Thị Bích Dung (2009), lạm phát là tình trạng mà tại đó mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy, mặc dù xuất phát từ nhiều góc độ và phương pháp luận khác nhau, thì những quan niệm trên nói lên đặc tính cơ bản chung về lạm phát là hiện tượng tiền lưu thông tăng vượt quá sự tăng trưởng hàng hóa sản xuất ra. Hiện tượng này dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hóa trong nền kinh tế không ngừng tăng lên.
Do đó, lạm phát có thể được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung. Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh. Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền.
Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định. Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức là sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm. Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của mức giá hay không.
Người dân vẫn có thể trở nên khá giả hơn khi thu nhập bằng tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng giá. Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó. Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát.
Tuy nhiên, trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát. 8 Luận văn tốt nghiệp 2. Nguyên nhân gây ra lạm phát Đã có rất nhiều nghiên cứu, trường phái đưa ra lý thuyết về nguyên nhân hình thành lạm phát cũng như đã có nhiều thực nghiệm cho từng quốc gia cụ thể. Lý thuyết về lạm phát hiện nay chủ yếu dựa trên mô hình đường cong Phillips do Phillips (1958) và Lipsey (1950) phát triển dựa trên giả định rẳng giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát có một mối quan hệ ổn định và tỷ lệ nghịch.
Bên cạnh đó, độ dốc của đường cong Phillips gia tăng cùng với mức độ mở cửa thương mại. Mối quan hệ này phụ thuộc vào mức điều chỉnh của tỷ giá hối đoái, là nhân tố quyết định tiềm năng sản lượng và lạm phát trong nền kinh tế mở. Mối tương quan này càng rõ đối với nền kinh tế duy trì cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, giữa chúng không tương quan trong trường hợp các nước tồn tại cơ chế tỷ giá hối đoái cố định (Christopher Bowdler, 2005). Từ những năm 1950 đến nay, mô hình đường Phillips đã được bổ sung sửa đổi liên tục bởi hàng loạt các nhà kinh tế nổi tiếng như Friedman (1968), Phelps (1967), Sargent (1971), Lucas (1972), Taylor (1979) Calvos (1983), Gali và Gertler (1999), Woodford (2003) và Christiano, Eichenbaum, và Evans (2005).
Trái ngược với quan điểm của trường phái Keynes rằng nền kinh tế thực rất không ổn định và việc quản lý cung tiền hầu như không có tác động đến nền kinh tế thực, trường phái tiền tệ cho rằng nền kinh tế thực là khá ổn định nhưng có thể bị bất ổn do những biến động trong cung tiền và vì vậy chính sách tiền tệ có ý nghĩa quan trọng. Sự gia tăng không tính toán trước của cung tiền có thể do việc in tiền quá mức nhằm tài trợ ngân sách hoặc cho khu vực tư nhân vay quá mức. Vì vậy, mô hình về các tác nhân của lạm phát do một nhà kinh tế học tiền tệ xây dựng thường phụ thuộc vào tốc độ tăng cung tiền, tốc độ tăng thu nhập và chi phí cơ hội của việc giữ tiền. Lãi suất và lạm phát trong quá khứ là những biến đã được sử dụng để đo lường chi phí cơ hội của việc giữ tiền.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của các nhà kinh tế học tiền tệ đến lạm phát xuất phát từ các nước phát triển nơi hệ thống tài chính đã hoàn thiện và tồn tại rất ít các bế tắc về cơ cấu như ở các nước đang phát triển. Cách tiếp cận cơ cấu đến các nhân tố quyết định lạm phát coi các yếu tố cứng nhắc là nguyên nhân gây áp lực lạm phát. Những áp lực lạm phát như vậy ở các nước đang phát triển có thể do các chính sách không phù hợp của Chính phủ, chênh lệch về năng suất lao động ở các khu vực của nền kinh tế, việc tăng lương, cung lương thực thực phẩm thiếu co giãn, các hạn chế về ngoại hối cũng 9 Luận văn tốt nghiệp như những hạn chế về ngân sách. Những yếu tố cứng nhắc này dẫn đến việc giá cả và lạm phát tăng lên (Akinboade et.
Các nhà kinh tế học cơ cấu cũng coi các cú sốc “thực” đối với nền kinh tế như sự gia tăng của giá hàng hóa nhập khẩu hay sự tăng lên đột ngột của thâm hụt ngân sách là những nguyên nhân gây lạm phát. Họ gọi chúng là các nhân tố “chi phí đẩy”, khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế. Trong đồ thị tổng cung-tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên và sang bên trái. Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp và lạm phát đều tăng.
Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái (stagflation). Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu. Đây là loại lạm phát xuất phát từ lợi nhuận hoặc tiền lương tăng lên (Pahlavani và cộng sự, 2009).