Chương 1: Giới thiệu. Chương này sẽ trình bày tính cấp thiết của đề tài mà luận văn này nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, cũng như trình bày sơ lược phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đạt được. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.Chương này sẽ trình bày tổng quan các bài nghiên cứu trước đây để đưa ra một nền tảng cho việc kiểm định thực nghiệm mô hình này cũng như sẽ thảo luận để đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này sẽ trình bày một cách cụ thể về mô hình và phương pháp ước lượng, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu để tính toán các biến nghiên cứu trong bài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm mà người viết có được từ dữ liệu và phương pháp nghiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cứu như được thảo luận trong chương 3 và sẽ cùng thảo luận sâu hơn về các kết quả này. Chương 5: Kết luận.
Chương này sẽ chốt lại các kết quả nghiên cứu đạt được trong bài này và người viết cũng sẽ nêu ra những mặt hạn chế còn tồn tại của bài luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Phần này sẽ trình bày các tài liệu nghiên cứu trước đây về mặt lý thuyết và thực nghiệm mà người viết có tham khảo của mối quan hệ giữa cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chínhcủa doanh nghiệp để phát triển các giả thuyết nghiên cứu phù hợp cho luận văn này. Các lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết cấu trúc quản trị doanh nghiệp Trước đây đã có nhiều nghiên cứu sâu về cấu trúc quản trị doanh nghiệp, điều quan trọng là cần xác định khái niệm về cấu trúc quản trị doanh nghiệp.Số lượng lớn các lý thuyết hiện có về vấn đề này cho thấy rằng có tồn tại vô số định nghĩa về quản trị doanh nghiệp.Để có được một cái nhìn đầy đủ về vấn đề này nên thận trọng để đưa ra một định nghĩa phù hợp về quản trị doanh nghiệp.
Cấu trúc quản trị doanh nghiệp liên quan đến một tập hợp các mối quan hệ giữa ban điều hành của công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên liên quan khác. Những mối quan hệ nàyliên quan đến các quy tắc và quyền hạn khác nhau, đưa ra các cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được thiết lập, và các cách thức để đạt được những mục tiêu cũng như kiểm soát hiệu quả tài chính. Do đó, nhân tố quan trọng của một cấu trúc quản trị doanh nghiệp tốt bao gồm sự minh bạch của cấu trúc quản trị công ty và hoạt động; trách nhiệm của ban điều hành và ban quản trị đối với cổ đông; và trách nhiệm của công ty đối với các bên liên quan. Nói chung, cấu trúc quản trị doanh nghiệp được coi là có ý nghĩa quan trọng đối với triển vọng tăng trưởng của một nền kinh tế, bởi vì một cấu trúc quản trị doanh nghiệp tốt có thể giảm rủi ro cho các nhà đầu tư, thu hút vốn đầu tư và cải thiện hiệu quả tài chính của công ty (Spanos, 2005).
Một cấu trúc quản trị doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghiệp hiệu quả được coi là sự đảm bảo trách nhiệm của công ty, nâng cao độ tin cậy và chất lượng của thông tin tài chính, và do đó tăng cường tính toàn vẹn và hiệu quả của thị trường vốn, do đó sẽ cải thiện niềm tin nhà đầu tư (Rezaee, 2009). Có được một cấu trúc quản trị doanh nghiệp tốt là hết sức quan trọng trong tất cả các công ty bất kể ngành công nghiệp, quy mô, mức độ tăng trưởng.Chủ đề chính của cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiện đang nhận được sự chú ý chính là đảm bảo rằng có sự tách biệt giữa ban quản trị và ban điều hành để đảm bảo rằng hội đồng quản trị chỉ đạo và giám sát ban điều hành, bao gồm tách biệt vị trí chủ tịch và giám đốc; đảm bảo rằng hội đồng quản trị có một sự pha trộn hiệu quả giữa thành viên độc lập và không độc lập. Cấu trúc quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam:Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp đã được đưa vào hệ thống pháp luật về công ty. Chính phủ Việt Nam ban hành một số luật và quy định liên quan đến công ty niêm yết.
Quy định hiện hành liên quan đến quản trị doanh nghiệp cho các công ty niêm yết và công ty niêm yết có thể được tìm thấy trong Luật Doanh nghiệp (1999), nghị định 64 CP (năm 2002) của Chính phủ về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, và nghị định 144 CP (năm 2003) của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán 2. Lý thuyết đại diện Phần này tập trung trình bày tổng quan sơ lược, nguồn gốc và sự liên hệ của lý thuyết đại diện đối với vấn đề quản trị công ty. Từ đó, cấu trúc HĐQT sẽ được xem xét chi tiết làm nền tảng cho phân tích thực trạng tại Việt Nam ở trong phần tiếp theo. Lý thuyết đại diện (agency theory) là cách tiếp cận thiên về lý thuyết trong các nghiên cứu về cấu trúc quản trị.Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchian và Demsetz (1972).Sự mô tả chi tiết lý thuyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đại diện lần đầu được trình bày bởi Jensen và Meckling (1976).Theo lý thuyết đại diện, quản trị công ty được định nghĩa là “mối quan hệ giữa những người đứng đầu, chẳng hạn như các cổđông và các đại diện như các giám đốc điều hành công ty hay quản lý công ty” (Mallin, 2004).Trong lý thuyết này, các cổ đông là các chủ sởhữu hoặc là người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công việc.Những người đứng đầu ủy quyền hoạt động của công ty cho các giám đốc hoặc những người quản lý.Theo lý thuyết đại diện, các cổ đông kỳ vọng các đại diện hành động và ra các quyết định vì lợi ích của những người đứng đầu.Ngược lại, các đại diện không nhất thiết phải ra quyết định vì các lợi ích lớn nhất của cổ đông (Padilla, 2000).Sự xung đột lợi ích này lần đầu được Adam Smith nhấn mạnh trong thế kỷ XVIII và sau đó được khám phá bởi Ross (1973).Khái niệm về vấn đề phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và kiểm soát trong lý thuyết đại diện đã được xác nhận bởi Davis, Schoorman và Donaldson(1997).Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị, chẳng hạn giữa các cổ đông như đa số và thiểu số, cổ đông cá nhân và tổ chức, và giữa các thành viên HĐQT như thành viên điều hành và không điều hành, thành viên độc lập và phụ thuộc.
Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết lập cấu trúc HĐQT nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông, những người chủ sở hữu của công ty. HĐQT có thể được thiết lập theo nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Sự khác nhau trong cấu trúc HĐQT xuất phát từ hai quan điểm đối lập. Quan điểm thứ nhất cho rằng, HĐQT được thiết lập để hỗ trợ sự kiểm soát của đội ngũ quản lý, tạo ra kết quả hoạt động vượt trội dựa trên sự hiểu biết tường tận tình hình công ty của ban giám đốc điều hành hơn là của các thành viên HĐQT độc lập bên ngoài (Berle và Means, 1932; Mace, 1971).
Quan điểm thứ hai cho rằng, HĐQT được thiết lập để tối thiểu hóa các “chi phí đại diện” thông qua các cấu trúc cho phép thành viên HĐQT bên ngoài phê chuẩn và giám sát các hành vi của đội ngũ quản lý, vì vậy cũng giảm thiểu được sự khác nhau về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mặt lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý (Fama và Eugene F, 1980; Fama và Jensen, 1983). Một cơ chế quan trọng của cấu trúc HĐQT chính là cấu trúc lãnh đạo, nó phản ánh vị trí, vai trò của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành.Cấu trúc lãnh đạo hợp nhất diễn ra khi giám đốc đảm nhiệm cùng lúc hai vai trò là giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT.Mặt khác, cấu trúc lãnh đạo phân tách diễn ra khi vị trí chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành được đảm nhiệm bởi hai người khác nhau. Sự tách biệt vai trò của giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT được đề cập rất nhiều trong lý thuyết đại diện (Dalton, 1998), bởi vì vai trò của HĐQT chính là giám sát đội ngũ quản lý để bảo vệ lợi ích của các cổ đông (Fama và Jensen, 1983). Hơn nữa, việc hợp nhất vai trò của giám đốc điều hành với chủ tịch HĐQT sẽ tạo ra một giám đốc điều hành có quyền lực tuyệt đối và có thể dẫn tới sự giám sát kém hiệu quả đội ngũ quản lý của HĐQT.
Vấn đề quan trọng tiếp theo mà lý thuyết đại diện đề cập chính là thành phần của HĐQT, bao gồm thành viên HĐQT điều hành và thành viên HĐQT không điều hành.HĐQT với đa số thành viên không điều hành được củng cố và đề cập nhiều trong lý thuyết đại diện. Theo lý thuyết đại diện, một HĐQT hiệu quả nên bao gồm đa số thành viên HĐQT không điều hành, những người được tin rằng sẽ tạo ra kết quả hoạt động vượt trội bởi tính độc lập của họ đối với hoạt động quản lý của công ty (Dalton, 1998). Bởi vì các thành viên HĐQT điều hành có trách nhiệm thực hiện các hoạt động hàng ngày của công ty như tài chính, marketing…Với vai trò hỗ trợ cho giám đốc điều hành, họ sẽ không thể thực hiện một cách trọn vẹn vai trò giám sát hay kỷ luật giám đốc điều hành (Daily và Dalton, 1993). Do đó, xây dựng một cơ chế để giám sát các hành động của giám đốc điều hành và các thành viên HĐQT điều hành là rất quan trọng.
Cadbury (1992) đã xác định vai trò giám sát là một trong những trách nhiệm chính yếu của thành viên HĐQT không điều hành. Họ có thể trở thành những người giám sát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 kém hiệu quả khi thời gian làm việc tại HĐQT càng dài, khi mà họ xây dựng những mối quan hệ thân thiết với các thành viên HĐQT điều hành. Điều này đã củng cố cho những tuyên bố của Cadbury rằng tính độc lập của các thành viên HĐQT không điều hành có thể sẽ giảm dần khi thời gian làm việc tại HĐQT càng dài.