CHƯƠNG 1 Luận văn đã tìm ra khe hồng nghiên cứu. Từ điểm này đưa ra mục tiêu nghiên cứu cẩn thực hiện trong tiến trình nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn đã đẻ cập bối cảnh nghiên cứu của đẻ tài, tính cần thiết của nghiên cứu và các yếu. tố ảnh hưởng đến kết quả đổi mới, năng lực đôi mới, sự hợp tác, cạnh tranh, sự tranh hợp giữa các phòng ban chức năng.
Sau đó, đưa ra các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được, phạm vi nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà quản trị cấp trung và cấp cao đang công tác trong các DN nhỏ vả vừa tại tỉnh BR-VT và được khảo sát từ tháng 03 đến tháng 04/2021. Quá trình thu thập. dữ liệu kéo dài 02 tháng trong năm 2021. Đối tượng nghiên cứu và môi quan hệ của sự hợp tác và sự canh tranh giữa các phòng ban chức năng lên năng lực đổi mới, năng lực đổi mới tác động lên kết quả đổi mới.
Về đối tượng khảo. sát là những nhà quán trị cấp cao và cắp trung có kinh nghiệm quản lý từ 01 năm trở lên. Sau đó, luận văn trình bày và phân tích tầm quan trọng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của luận văn. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Kết quả sự đổi mới Kết quả đổi mới là kết quả của quá trình các thành viên hay các phòng, ban trong DN xây dựng, áp dụng kiến thức mới, thực hiện nhiệm vụ có chiến lược gắn liền với mục tiêu tô chức (Jacobs, 2003). Kết quả đôi mới được hình thành từ chiến lược đổi mới của DN và chính sách nhân sự tập trung đổi mới để đạt được hiệu quả hoạt động của DN đã được kiểm định trong các nghiên cứu trước đó. Kết quả đổi mới là mục tiêu phát triển của DN nên nó đóng vai trò sống còn của DN (Slater & Narver, 2009). Từ kết quả thu nhận được, DN sẽ đánh giá và điều chinh lại tính năng và cách thức hoạt động cho phù hợp (Vincent và cộng sự, 2004).
Có nhiều thang đo về kết quả đối mới. Kết quả sự đổi mới có thể được đo lường bằng bốn khía cạnh: (1) Năng lực tổ chức cần đạt được các nguồn lực quan trọng; (2) Hoạt động tổ chức gia tăng công suất bằng cách tăng tốc. cố định đầu vào, tăng đầu ra hay đầu vào giảm và đầu ra cố định; (3) Các nguồn lực khan hiểm để tạo ra năng lực cốt lõi; (4) Tâm nhìn chiến lược của tổ chức (Astley & Van de Ven, 1983) Kết quả đổi mới của tổ chức là một khía cạnh rất lớn và được nhìn nhận theo các chiều khác nhau, nhưng đa số các khái niệm trên bao gồm hai vấn đề chủ yếu: Vấn đề thứ nhất là yếu tố tài chính: loi tire du tr (ROD), kha ning sinh lời trên tổng tài sản (ROA), khả năng sinh lời trén doanh thu (ROS),. Vấn đề thứ hai là yếu tố phi tài chính: chất lượng sản phẩm, sự trung thành của khách hàng, chính sách công ty, khả năng sinh lời nói chung khi so sánh với đối thủ cạnh tranh chính trong 05 năm gần nhất.
Kết quả đôi mới có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố trong tổ chức. Kết quả đổi mới được liên kết với kết quả tài chính hoặc kết quá công ty trong i các tài liệu hiện tai (Crestell & Hansen, 2008). Một số nghiên cứu khác đã xác nhận mối liên hệ giữa sự đổi mới và kết quả tài chính của các công ty (Geroski & Jacquemin, 1988; Deschamps & Nayak, 1995). Tác giả luận văn cho rằng sự tương tác của việc thực hiện chiến lược đổi mới và chính sách nhân sự tập trung vào đổi mới sẽ ảnh hưởng tích cực đến kết quả đổi mới.
Kết quả đổi mới rất quan trọng bởi vì nó ảnh hưởng vị thế và kết quả hoạt động. sản xuất kinh doanh dịch vụ của một công ty (Geroski, Machin, & Van Reenen, 1993; Verhees & Culenberg, 2004). Hơn nữa, luận văn hiện tại đã kiểm định các mối quan hệ giữa các khía cạnh của chiến lược đổi mới và chính sách nhân sự và kết quả công ty (Huselid, 1995; Delaney & Huselid, 1996; Collins & Smith, 2006). Một DN có chiến lược đổi mới tốt bao gồm ệc nhắn mạnh, phân bô đủ thời gian và nguồn lực để hỗ trợ sự đổi mới có thể đảm bảo rằng các nguồn lực được khai thác hiệu quả đề đạt được kết quả.
đổi mới vượt trội có thể dẫn đến tăng trưởng doanh thu (Crestell & Harlsen, 2008). Nói cách khác, sự tập trung vào đổi mới là trung tâm hiệu quả của các chiến lược đổi mới của các DN (Bamey, 1991). Tập hợp các thực thi chiến lược và chính sách nhân sự tập trung vào đổi mới sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng doanh thu DN. Sự cạnh tranh giữa các phòng ban chức năng Sự cạnh tranh giữa các phòng ban chức năng là kết quả của sự so sánh giữa các phòng ban chức năng (Levit, 1969, Maltz, 1996), sự tranh giành các.
nguồn lực hữu hình hạn chế (ví dụ: vốn, nhân sự) và nguồn lực vô hình (ví dụ: thời gian, sự chú ý của nhà lãnh đạo) (Frank wick, Ward, Hut, & Reingen, 1994), các mục tiêu và các ưu tiên chiến lược khác nhau (Houston, Walker, Hut, & Reingen, 2001). Sự cạnh tranh giữa các phòng ban chức năng luôn xảy ra trong quá trình tương tác hoạt động giữa các bộ phận và được xem như một nhân tố đề kích thích tạo sự phát triển của DN (Grancetter, 1985). Cụ thẻ, khi 12 trao đổi trong các cuộc họp, trong quá trình hợp tác là những quá trình chuyển đổi trí thức thông tin như một phương tiện để đưa mọi người và các phòng, ban lại gần với nhau và để tạo điều kiện đạt được các mục tiêu của tỏ chức. Do đó, người ta đo lường mức độ mà các phòng ban của một tổ chức hợp tác kết hợp với các cấp độ khác nhau của sự cạnh tranh.
trong cấu trúc xã hội của công ty cùng nhau để xác định mức độ cạnh tranh giữa các phòng ban của DN (Luo và cộng sự, 2006). Sự cạnh tranh thường xảy ra trong quá trình hợp tác với các tình huống khác nhau. Thứ nhất, khi các thành viên của các phòng ban trao đổi về sự. phân bỗ nguồn lực (ví dụ: nguồn vón, nhân sự.) giữa các phòng ban thì các phòng ban đều mong muốn nguồn lợi cho phòng mình nhiều nhất, trong khi nguồn lực công ty hạn chế đẻ phân bổ nên thường xuyên xảy ra căng thẳng cao.
Thứ hai, các phòng ban lại tìm cách để nhận được sự quan tâm chú ý từ lãnh đạo công ty, tranh giảnh quyền lực, thậm chí điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến các phòng ban khác. Tiué 6a, những mục tiêu, hướng đi của các phòng ban thường không khớp, tương thích với nhau dẫn đến cách làm không đồng nhất, nên khi kết hợp giữa các phòng ban sẽ dễ xảy ra mâu thuẫn do thiếu đồng nhất trong quan điểm, quy trình. Thue te, do sự tự cạnh tranh, tranh đua giữa các phòng ban và nguồn lực giới hạn nên để có nhiều nguồn lực từ một phòng ban nào đó, các phòng ban khác phải có sự hy sinh đánh đối 2 Sw hop tác giữa các phòng ban chức năng Sự hợp tác giữa các phòng ban chức năng là sự phối hợp các hoạt động giữa các phòng ban trong quá trình làm việc. Theo quan điểm của Luo và cộng sự (2006), sự hợp tác giữa các phòng ban chức năng bao gồm hai khía cạnh là cường độ hợp tác giữa các phòng ban chức năng và khả năng hợp tác giữa các phòng ban chức năng.
Cường độ hợp tác giữa các phòng ban chức. 13 năng để cập đến mức độ mà các phòng ban tương tác qua lại lẫn nhau trong, một DN (Bendig & công sự, 2018). Bên cạnh đó, khả năng hợp tác giữa các phòng ban chức năng được hiểu là khả năng tự động hóa và triển khai kiến thức thị trường giữa các phòng ban chức năng có ý nghĩa về mặt vật chất và tinh than cho DN. Sự hợp tác giữa các phòng ban còn là phương cách giúp các phòng ban chia sẻ thông tin, vấn đề nội bộ nhiều hơn.
Từ đó, các bộ phận hiểu nhau hơn, kết hợp với nhau, trao đôi chia sẻ kiến thức tốt hơn (Urban & Hauser, 1980) giúp sự hiểu biết của các phòng ban nâng cao, hiệu quả hoạt động của DN. cũng tăng lên. Ngoài ra, theo quan điểm của Flatten, Engelen, Zara, & Brettel (2011), sự hợp tác giữa các phòng ban chức năng giúp tăng năng lực tích hợp, áp dụng và khai thác các kiến thức trong những nguồn lực hiện hữu của công. ty, khả năng nhận ra những kiến thức mới và hữu ích bắt nguồn từ năng lực.
tìm kiếm và chia sẻ, tiếp thu kiến thức ngày càng nâng cao. Mặt khác, nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng tiếp thu giúp thúc đẩy cai tiến công ty và chuyển giao trí thức (Mowery, Oxley, & Silverman, 1996; Tsai, 2002), đặc biệt quan trọng trong việc phát triển sản phẩm (Kusar & Nhi, 1998). Các phòng ban chức năng trong các công ty thường hợp tác với nhau, nhằm tiếp cận và chia sẻ kiến thức mới và nhận được lợi ích chung (Tsai, 2002). Để nắm bắt các năng lực liên quan đến phòng ban, Luo và cộng sự (2006) đã giới thiệu khía cạnh của khả năng hợp tác giữa các phòng ban chức.
năng, mô tả khả năng của một DN để đánh giá và kết hợp hiểu biết. này bắt nguồn từ khả năng tiếp thu, khả năng nhận ra giá trị của thông tin mới, kết hợp và khai thác những lợi ích tốt nhất của công ty (Cohen & Levinthal, 2000; Flatten và công sự, 2011). Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng tiếp thu giúp thúc đấy cải tiến công ty và chuyển giao tri thức tốt hơn (Movery, Oxley, & Silverman, 1996; Tsai, 2002). 14 Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các phòng ban chức năng làm tăng sự học hỏi thông tin thị trường mới và hữu ích, bổ sung kiến thức thông qua sự hợp tác ăn ý giữa các phòng ban chức năng (Cummings, 2004).
Việc tiếp cận thông tin này thúc đầy việc ra quyết định nhanh và giải quyết vấn đề sáng suốt hơn, do đó tao ra các giá trị về mặt tài chính và khách hàng cho DN (Kohli & Jaws ski, 1990). Một số nghiên cứu trước đây của Ghoshal, Korine, & Szulanski (1994) và Tsai (2002) đã cho thấy rằng sự tương tác thường xuyên giữa các bộ phận chức năng tạo ra cơ hội để chia sẻ kiến thức và ý tưởng giữa các phòng ban, từ đó cung cấp thông tin kịp thời và hữu ích cho tổ chức (Uni, 1997).