phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, tài liệu đính kèm, luận văn có kết cấu 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về sự tác động của cuộc cách mạng công nghệ tới định hƣớng cải cách chƣơng trình giáo dục - Chƣơng 2. Sự tác động của cách mạng công nghệ đối với định hƣớng cải cách chƣơng trình giáo dục - Chƣơng 3. Định hƣớng cải cách chƣơng trình giáo dục Việt Nam trƣớc sự phát triển của cách mạng công nghệ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ TỚI ĐỊNH HƢỚNG CẢI CÁCH CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm giáo dục Theo Hà Văn Hội trong giáo trình "Quản trị nguồn nhân lực", ấn phẩm xuất bản tại NXB Bƣu điện năm 2008, khái niệm "giáo dục" đƣợc hiểu nhƣ sau: "Giáo dục đƣợc hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngƣời bƣớc vào một nghề nghiệp mới thích hợp trong tƣơng lai". 1 Theo Luận văn Thạc sỹ Lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật "Quản lý nhà nƣớc về giáo dục và đào tạo – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" của tác giả Hoàng Thị Tú Oanh, dƣới sự hƣớng dẫn của Phạm Hồng Thái, bảo vệ năm 2007 của trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm "giáo dục" đƣợc đề cập đến nhƣ sau: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng nào đó, làm cho đối tƣợng ấy dần dần có đƣợc những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra.
Giáo dục là một quá trình đào tạo con ngƣời một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con ngƣời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó đƣợc thể hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử – xã hội của loài ngƣời. Nhƣ vậy, giáo dục là một hiện tƣợng xã hội đặc trƣng của xã hội loài ngƣời. Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài ngƣời, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu đƣợc và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội"2 1 [Hà Văn Hội, 2008] 2 [Hoàng Thị Tú Oanh, 2007] 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về cơ bản, có thể hiểu, "giáo dục" là quá trình đào tạo một con ngƣời, giúp họ có đầy đủ những kiến thức và kỹ năng để họ tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất một cách hiệu quả và có thể hoàn thành tốt công việc. Khái niệm khoa học Theo tác giả Strauss và Cropseyeds trong tác phẩm "History of Political Philosophy" tái bản lần thứ ba, cách hiểu về khoa học đƣợc nhắc đến nhƣ sau: "Khoa học đã đƣợc phân biệt là kiến thức về tự nhiên, và những gì là sự thật đối với mỗi cộng đồng, và tên gọi của việc theo đuổi những kiến thức nhƣ thế là triết học - lĩnh vực của những nhà vật lý- triết học đầu tiên.
Họ chủ yếu là những ngƣời suy đoán hoặc các nhà lý thuyết, đặc biệt quan tâm đến thiên văn học. Ngƣợc lại, việc cố gắng sử dụng kiến thức về tự nhiên để bắt chƣớc tự nhiên đƣợc nhìn thấy bởi các nhà khoa học cổ điển nhƣ là một điều thích thú phù hợp hơn đối với các nghệ nhân hạng thấp hơn"3. Theo Luật Khoa học Công nghệ số 29/2013/QH13 ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2013, khái niệm "khoa học" đƣợc đề cập đến nhƣ sau: "Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy"4. Theo "Giáo trình môn học Phương pháp luận nghiên cứu khoa học", của Đại học Sƣ phạm, Đại học Đà Nẵng, khái niệm "khoa học" đƣợc hiểu nhƣ sau: - "Là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tƣ duy".
- "Là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật của sự vật và hiện tƣợng và vận dụng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật và hiện tƣợng nhằm biến đổi trạng thái của chúng". - "Là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với 3 [Strauss và Cropsey eds, trang 209] 4 [Luật Khoa học Công nghệ số: 29/2013/QH13, 2013, Điều 3, Khoản 1] 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hình thái ý thức xã hội khác (ở đối tƣợng và hình thức và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt)"5. Trong cuốn Lý luận và phƣơng pháp luận khoa học của Vũ Cao Đàm, khoa học đƣợc định nghĩa theo một số cách tiếp cận. Theo cách tiếp cận khoa học là một hệ thống tri thức thì Khoa học đƣợc hiểu là "hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tƣ duy".
Theo cách tiếp cận khoa học là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình thái xã hội khác. Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tƣợng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. Khoa học là một thiết chế xã hội đƣợc hiểu là một hệ thống những quy tắc, giá trị và cấu trúc nhằm tới một mục đích xác định: "là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên một loạt các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất đƣợc xã hội công khai thừa nhận nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội". Khoa học là một hoạt động xã hội, đó là một hoạt động xã hội đặc biệt, với một đặc điểm khó tìm thấy trong những lĩnh vực hoạt động xã hội khác.
Đó là việc tìm kiếm những điều chƣa biết và phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình tìm kiếm. 6 Nhƣ vậy, khái niệm "khoa học" có nhiều cách tiếp cận, nhƣng cách tiếp cận khái niệm "khoa học" của Vũ Cao Đàm tôi cho rằng đầy đủ và hoàn chỉnh hơn cả. Khái niệm công nghệ Theo Phan Tú Anh trong "Giáo trình quản trị công nghệ", Học viện bƣu chính viễn thông, Hà Nội, ấn hành năm 2006, "Khái niệm công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài ngƣời. Từ "công nghệ" xuất phát từ chữ Hy Lạp (teknve – Tenkhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ 5 [Đại học Sƣ phạm, Đại học Đà Nẵng, 2013] 6 [Vũ Cao Đàm, 2009, trang 59] 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng, và (λoyoσ –logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu.
Thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) có ý nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật – thƣờng đƣợc gọi là "Công nghệ học".7 Thực tế cho thấy, ngƣời ta thƣờng đồng nhất nội dung của hai thuật ngữ kỹ thuật và công nghệ làm một. Nguyên nhân, theo tài liệu "Góp phần nhận thức thế giới đương đại" của các tác giả đồng chủ biên Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến, ấn phẩm xuất bản tại NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2003, cho rằng: Ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa trƣớc đây thƣờng dùng thuật ngữ "kỹ thuật" thay cho "công nghệ", chẳng hạn việc dùng thuật ngữ "khoa học và kỹ thuật" thay cho thuật ngữ "science and technology" ở phƣơng Tây; nhƣng "hiện nay, đa số các nƣớc đó sử dụng cơ chế thị trƣờng nên cũng dùng thuật ngữ công nghệ"8. Cũng theo tài liệu này, các tác giả cho rằng: "Công nghệ là bộ phận đặc biệt quan trọng của lực lƣợng sản xuất"9.Ăngghen trong tài liệu "C.Ăngghen: Toàn tập – Tập 4", xuất bản tại NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995, cách hiểu về "công nghệ" nhƣ sau: "Công nghệ làm nổi bật thái độ tích cực của con ngƣời đối với tự nhiên, vạch rõ quá trình sản xuất trực tiếp ra đời sống của con ngƣời và những điều kiện của đời sống xã hội của họ, cũng nhƣ những khái niệm tinh thần bắt nguồn từ điều kiện ấy"10. Quan niệm trên đây của Mác đã chỉ ra: (1) Thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan hệ của con ngƣời với tự nhiên; (2) Thông qua công nghệ, bộc lộ mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời; (3) Thông qua công nghệ, hình thành nên mối quan hệ biện chứng tự nhiên – con ngƣời – xã hội.Ăngghen, 1995, trang 187] 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Nguyễn Mạnh Quân (Viện Chiến lƣợc và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN) trong tài liệu "Cách tiếp cận hệ thống đổi mới trong quản lý nhà nƣớc về KH & CN", đăng trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 12 năm 2009, các tác giả Dahlman C.E còn mở rộng khái niệm công nghệ đến mức cho rằng: "Công nghệ bao gồm các quá trình vật chất chuyển hoá các đầu vào thành các đầu ra và những kết cấu xã hội có liên quan đến quá trình chuyển hoá này"11.
Ủy ban kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dƣơng của Liên hợp quốc (ESCAP hay UNESCAP) định nghĩa về "công nghệ" nhƣ sau: "Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin (bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phƣơng pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý và thông tin)"12. Đồng thời, ESCAP đã chỉ ra bốn thành phần cơ bản của công nghệ, gồm: • Kỹ thuật (Techno ware): bao gồm các máy móc thiết bị hay các công cụ và phƣơng tiện kỹ thuật. Đây là thành phần cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào, nhờ đó mà con ngƣời tăng đƣợc sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất. • Con ngƣời (Human ware): Bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ đƣợc trong mọi hoạt động, kể các tố chất sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức và kỷ luật lao động, các tri thức của ngƣời lao động tham gia vào quá trình sản xuất.
• Thông tin (Info ware): Bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, về con ngƣời và tổ chức; các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị để duy trì và bảo dƣỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật. Thành phần thông tin là tập hợp tất cả các tri thức đƣợc tích luỹ trong công nghệ.