Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 1. Lý thuyết, cách tiếp cận. Cách tiếp cận theo hệ số co giãn. Cách tiếp cận theo hệ số co dãn lần đầu tiên được đưa ra bởi hai nhà kinh tế là Alfred Marshall (1923) và Abba Lerner (1944), và sau đó được phát triển bởi Joan Robinson (1937) và Fritz Machlup.
Ở đây, Alfred Marshall chỉ là người khởi xuống cho lý thuyết này, còn hoàn thiện và phát triển là do Abba Lerner và Robinson. Theo điều kiện của Marshall — Lerner, “phá giá nội tệ chỉ có tác dụng cải thiện cán cân vãng lai khi tổng hệ số co giãn của cầu xuất khâu và cầu nhập khẩu lớn hơn 1”. Vậy phá giá nội tệ là gi? Theo từ diễn kinh tế hoc Routledge, phá giá là việc làm giảm giá tri của đồng nội tệ nhằm cải thiện cán cân vãng lai. Còn theo định nghĩa của ngân hàng dự trữ liên bang New York, phá giá là sự điều chỉnh có chủ định bằng cách giảm giá chính thức đồng nội tệ (dưới ty giá hối đoái cố định).
Trong ngắn hạn, giá cả của hàng hóa là không co dãn, cho nên việc phá giá đồng nội tệ làm ty giá thực tăng lên , kích thích tăng khối lượng của các mặt hàng xuất khẩu và làm hạn chế khối lượng nhập khâu. Tuy nhiên, trong thực nghiệm điều này chưa chắc đã đúng. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, khi các ngành xuất khẩu của nước ta còn phải phụ thuộc rất nhiều vào việc nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, thì việc tăng ty giá làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng lên và làm cho tinh trạng cán cân thương mại thậm chí là xấu đi. Vì vậy, chỉ khi nào hệ số co giãn của xuất khẩu và nhập khâu có tác dụng, tức là khi người tiêu dùng điều chỉnh thói quen tiêu dùng theo giá mới cũng như người sản xuất có thé khắc phục độ trễ thi cán cân thương mại mới hiệu quả được (đây còn được gọi là hiệu ứng chữ J).
Dưới đây là điều kiện Marshall — Lerner cụ thể. Cán cân thương mại tính băng nội tỆ: TB = P.Q Trong đó: P: giá hàng hóa xuất khâu tính bằng nội tệ.: Lượng hàng hóa xuất khẩu Qu: Lượng hàng hóa nhập khâu E: Ty giá danh nghĩa P*: giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rang, nếu trang thái xuất phát của cán cân vãng lai là cân bằng, thì khi phá giá nội tệ dẫn đến: - Cải thiện cán cân thương mại, tức là dTB/dE > 0, chi khi tổng số của "hệ số co dan xuất khẩu" và "hệ số co dan nhập khâu" lớn hơn 1; nghĩa là chỉ khi: (nx + Nm)>1 - Thâm hut cán cân thương mai, nếu tổng của hai độ co dan này nhỏ hơn 1: Trong thực tế khi phá giá nội tệ người ta thường mong đợi cán cân thương mại sẻ được cải thiện. Do đó, khi nói đến điều kiện Marshall-Lerner người ta thường nghĩ đó là điều kiện: (nx + nm)>Ï Có hai hiệu ứng của phá giá tiền tệ, hiệu ứng khối lượng và hiệu ứng giá cả. Hiệu ứng khối lượng: đồng nội tệ phá giá làm cho tỷ giá danh nghĩa E tăng, hàng nội địa trở nên rẻ hơn tương đối, tăng xuất khâu và giảm nhập khâu, cán cân thương mại tốt hơn.
Hiệu ứng giá: hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn tính theo nội tệ, khiến cán cân thương mại xấu đi. Nhìn chung, hiệu ứng của cán cân thương mại trở nên tốt hay xấu hơn phụ thuộc nhiều vảo tính trội của hiệu ứng khối lượng. Bây giờ chúng ta giả định rằng điều kiện Marshall — Lerner được thỏa mãn, phá giá tiền tệ giúp cải thiện cán cân thương mại. Khi đó, tồn tại hiệu ứng đường cong J: Trong ngăn hạn, phá giá làm thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai do hiệu ứng giá có tính trội hơn hiệu ứng lượng.
Trong trung và dài hạn, khi hiệu ứng lượng dần dan thay đổi dé bù đắp những thâm hụt thương mại do hiệu ứng giá cả gây ra, tài khoản vãng lai được cải thiện dần và chuyên sang thặng dư. Cách tiếp cận theo phương pháp chỉ tiêu. So với phương pháp tiếp cận theo hệ số co giãn ở trên thì phương pháp này đã khắc phục được nhược điểm là đánh giá cả ảnh hưởng thu nhập của sự phá giá đồng nội tệ chứ không chỉ của mỗi ảnh hưởng giá như đã nêu trên. Ta có các công thức sau: GDP=C+l+G+NX=C+lI+G+X-M A=C+l+G Trong đó: A: tổng chỉ tiêu trong nước C: chi tiêu dùng của hộ gia đình hay cá nhân I: đầu tư G: chi tiêu chính phủ X: xuất khâu M: nhập khâu NX: xuất khẩu ròng Từ đó, ta có: GDP-A=X-M=NX Như đã đề cập ở trên vì GDP có 3 cách tính (thu nhập, chỉ tiêu, sản xuất) nên có thé gọi GDP là thu nhập trong nước.
Thu nhập trong nước (GDP) trừ đi chỉ tiêu trong nước (A) chính bằng xuất khẩu ròng (NX) hay cán cân thương mại. Như vậy, khi thu nhập nhỏ hơn (băng, lớn hơn) chỉ tiêu thì cán cân thương mại sẽ có giá trị âm (bằng 0, dương), ta nói cán cân thương mại thâm hụt (cân bằng, thặng dư). Chính vì vậy dé có thé quyét dinh xem viéc pha gia đồng nội tệ có nên thực hiện hay không, việc phá giá đó có tác động tích cực đến cán cân thương mại hay không cần xem xét 3 yếu tố quan trọng: (1) khuynh hướng chỉ tiêu cận biên lớn hơn hay nhỏ hon 1; (2) sự thay đồi thu nhập; (3) tác động thay đổi của chi tiêu trực tiếp trong nước. Cách tiếp cận theo phương pháp tiền tệ.
Đây là một phương pháp dé phân tích sự thay đổi trong cung cầu tiền tệ. Khi cung — cầu tiền tệ thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi trực tiếp trong lãi suất, và lãi suất sẽ có tác động trực tiếp đến đầu tư, từ đó gây ra sự thay đổi trong tong cầu và cuối cùng gây ra sự biến động trong giá cả ảnh hưởng tới tỷ giá. Cân bằng trong cung — cầu tiền tệ: MS = M3 = P. Tỷ giá hồi đoái mà thay đổi đương nhiên hoạt động xuất nhập khâu cũng thay đôi theo và điều đó làm cán cân thương mại biến động.
3 Trong trường hợp hệ thống tỷ giá cố định (Fixed foreign exchange system): NHTW điều chính dé E (VND/USD) giảm di thì biện pháp cần thực hiện chính là mua nội tệ bán ngoại tệ ra ngoài thị trường tức giảm MS. Ngược lại khi NHTW muốn điều chỉnh để E (VND/USD) tăng lên sẽ thực hiện chính sách bán nội tệ thu ngoại tệ về tức tăng MS. Và có thé thay được rang trong trường hợp này cũng sẽ gặp những van dé bat cập ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại. Khi tỷ lệ lạm phát quốc nội trong tình trạng cao mà lại sử dụng các biện pháp dé giữ cho tỷ giá có định thì vô hình chung hàng hóa trong nước có mức giá cao hơn trên thế giới, khả năng cạnh tranh giảm đi khiên cho xuât khâu giảm ảnh hưởng tiêu cực đên cán cân thương mại.
3 Trong trường hợp hệ thống ty giá thả nổi ( Floating foreign exchange System): Ở đây NHTW có vao trò trong việc điều tiết ty giá sao cho sự biến động chênh lệch của tỷ giá nhỏ nhất có thể, rủi rỏ xảy xa trong nền kinh tế do biến động của tỷ giá sẽ được giảm đi đáng kế tạo 6n định đối với nền kinh tế vĩ mô. Khi E tăng lên tức hàng hóa nội địa có giá rẻ hơn so với giai đoạn trước. Điều này có lợi cho hoạt động xuất khẩu, xuất khẩu tăng. Bên cạnh đó thì hàng nước ngoài sẽ có giá đắt hơn tương đối ở giai đoạn trước nên nhập khẩu sẽ giảm đi.
Và khi đó thì cán cân thương mại có dấu hiện tốt nhờ và xuất khẩu ròng tăng lên. Khi E giảm ngược lại với trường hợp trên. Ty giá giảm làm hàng hóa trong nước có giá cao hơn, đắt hơn tương đối ảnh hướng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu. Hàng ngoại so với trước đây lại trở nên rẻ hơn nên hoạt động nhập khâu giảm.
Điều này chứng tỏ xuất khâu rong giảm tức cán cân thương mại có xu hướng xấu di. Nói tóm lại thì dựa trên phương pháp này thấy rõ được rằng tỷ giá hối đoái có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đến cán cân thương mại. Muốn điều chỉnh cán cân thương mại thì có thê điều chỉnh trực tiếp tỷ giá để có thể kiểm soát mọi tình huống xảy ra. Cách tiếp cận số nhân.
Xét trong nền kinh tế mở, cán cân thương mại được tính theo công thức sau: TB=NX=X-M Với: X=X (e,Y”)=X là hàm xuất khẩu M=M (e,Y)=M + MPM.Y là hàm nhập khẩu (e: tỷ giá hối đoái USD/VNĐ; Y* là thu nhập của người nước ngoài; Y là thu nhập của nền kinh tế M là nhập khâu tự định MPM là xu hướng nhập khẩu biên).Y) Khi cán cân thương mại (TB) thặng dư sẽ làm cho cán cân thương mại bị chệch khỏi trạng thái cân bằng do sự tăng lên của xuất khâu. Muốn đưa cán cân thương mại trở về trạng thái cân bằng thì số nhân đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Khi xuất khâu tăng lên kéo theo thu nhập tăng làm nhập khẩu tăng lên theo xu hướng nhập khẩu cận biên (khi thu nhập tăng thêm một đơn vị thì lượng nhập khẩu tăng lên là bao nhiêu). Do đó dé cán cân thương mại trở về trạng thái can bang phụ thuộc vào mỗi tương quan giữa sự tăng lên trong nhập khẩu và xuất khẩu.
Cách tiếp cận liên thời kì. Phương pháp tiếp cận liên kỳ có thể hiểu là sự mở rộng của phương pháp chỉ tiêu, với việc bố sung thêm quyết định vào tiết kiệm và đầu tư có xem xét trong tương lai. Phương pháp này được đề xuất đầu tiên bởi Sachs (1981), Buiter (1981) và được phát triển thêm bởi Obstfeld va Rogoff (1994). Trong phương pháp tiếp cận này, yếu tố được cho là có tác động đến quyết định tiết kiệm và đầu tư chính là mức giá tương đối.
Tổng quát có thé hiểu răng theo cách tiếp cận liên kỳ, sự thay đổi của cán cân thương mại là hệ quả của việc quyết định tiêu dùng và đầu tư được xét trong dải hạn và có kỳ vọng trong tương lai. Bởi những ưu điểm của phương pháp tiếp cận này, cách tiếp cận theo phương pháp liên kỳ được áp dụng trong phân tích khá phố biến hiện nay. Việc áp dụng phương pháp này trong nghiên cứu giúp làm rõ hơn tác động của nhiều biến số kinh tế và tác dụng của chính sách của chính quốc gia đó.