Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA). Chương 3: Thực trạng tác động của Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) tới hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị điện tử ngoại vi của Công ty cổ phần AV Plus. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp thúc đẩy ảnh hưởng tích cực và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) đến nhập khẩu thiết bị, linh kiện điện tử ngoại vi từ thị trường trung quốc của công ty cổ phần AV Plus.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN - TRUNG QUỐC (ACFTA) 2.1 Cơ sở lý luận về nhập khẩu 2.1 Khái niệm về nhập khẩu Tại Điều 28, Luật Thương mại 2005, khái niệm nhập khẩu được quy định theo pháp luật Việt Nam là: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Theo khái niệm được WTO quy định trong Công báo chính thức RM số 28/04 năm 2004: “Nhập khẩu có nghĩa là vận chuyển hoặc giao hàng hóa hoặc dịch vụ từ bất kỳ quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nước ngoài nào vào lãnh thổ của nước Cộng hòa theo luật hải quan.” Tóm lại, nhập khẩu được hiểu chung nhất là hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa giữa các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới nhằm đưa hàng hóa vào nội địa để phục vụ nhu cầu thị trường.2 Các hình thức nhập khẩu Nhập khẩu hàng hóa bao gồm các các hình thức phổ biến sau: Nhập khẩu trực tiếp: ở hình thức này người mua và người bán trao đổi trực tiếp với nhau. Để tiến tới ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu hàng hóa trên thị trường nội địa, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả, đàm phán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịch với bên xuất khẩu, thực hiện theo hành lang pháp lý quốc gia cũng như thông lệ quốc tế. Đặc điểm của hình thức này là cách thức tiến hành đơn giản. Tuy nhiên, bên nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theo đúng hợp đồng và phải chịu nhiều rủi ro trong giao dịch hơn.
Nhập khẩu gián tiếp: hoạt động thương mại quốc tế này diễn ra khi một đơn vị trung gian được thuê đứng tên tiến hành hoạt động nhập khẩu. Bên được ủy thác có trách nhiệm cung cấp đủ thông tin giao dịch, thông tin đối tác, tham gia ký kết hợp đồng và thực hiện thủ tục có liên quan đến hoạt động nhập khẩu. Đặc điểm 8 khác biệt của hình thức này với nhập khẩu trực tiếp là doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng nhập, giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch xuất nhập khẩu không được tính vào doanh thu. Buôn bán đối lưu: là phương thức giao dịch được sử dụng chủ yếu với các nước đang phát triển.
Đây là giao dịch hàng hóa, dịch vụ lấy hàng hóa, dịch vụ khác có trị giá tương đương. Đặc điểm của hình thức này là nó cần một hợp đồng giao dịch có thể tiến hành cả hai hoạt động xuất, nhập khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu được tính vào cả kim ngạch xuất nhập khẩu, doanh thu trên hàng hoá nhập và hàng xuất. Tạm nhập tái xuất: là hình thức doanh nghiệp tạm thời nhập khẩu hàng hóa vào nội địa sau đó lại xuất khẩu chính hàng hóa đó ra nước ngoài.
Hình thức này được thực hiện với mục đích thu lợi nhuận, hưởng chênh lệch ngoại tệ giữa nhập và xuất khẩu. Khi tiến hành hoạt động này, doanh nghiệp cần làm hai hợp đồng riêng biệt gồm: hợp đồng mua hàng ký với đối tác nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký với đối tác nước nhập khẩu. Doanh nghiệp tái xuất được tính kim ngạch trên cả hàng tái xuất và hàng nhập, doanh số tính trên giá trị hàng hoá tái xuất do đó vẫn chịu thuế. Đặc biệt là hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu theo hình thức chuyển khẩu, nhưng tiền phải do người tái xuất trả cho người nhập khẩu và thu từ người nhập khẩu.
Nhập khẩu gia công: là hình thức mà bên nhận gia công sẽ nhập khẩu nguyên vật liệu từ đối tác nước ngoài thuê gia công theo hợp đồng được ký kết. Đặc điểm của hình thức này là: Quyền sở hữu hàng hoá không thay đổi từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công (quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt – có nghĩa là có các quyền bán, cho, đổi). Hoạt động này xuất hiện nhiều ở Việt Nam như ngành dệt may, da giày nhận gia công của các đối tác ở Đài Loan, Trung Quốc.3 Vai trò của nhập khẩu Vai trò nhập khẩu đối với nền kinh tế Quốc gia cần nhập khẩu hàng hóa từ những nguồn bên ngoài nhằm đảm bảo cân đối kinh tế, phát triển ổn định bền vững khi mà tự quốc gia đó không thể sản xuất hoặc sản xuất không đủ để cung cấp. 9 Việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài kết hợp hàng hóa có sẵn trong nước giúp thị trường tiêu dùng trở nên đa dạng hóa và nhộn nhịp hơn.
Khả năng tiêu dùng và mức sống của người dân được cải thiện khi có nhiều sự lựa chọn từ chủng loại hóa, nguồn gốc xuất xứ, giá cả lẫn chất lượng. Tình trạng độc quyền, tự cung tự cấp sẽ bị xóa bỏ, đảm bảo quyền lợi cho người dân. Nhập khẩu hàng hóa tạo nên một thị trường năng động, tiến tới hợp tác rộng rãi giữa các quốc gia, là cơ hội để phát huy lợi thế so sánh công bằng. Nhập khẩu đóng vai trò giúp phát triển doanh nghiệp trong nước.
Bởi khi hàng ngoại nhập tạo nên sự cạnh tranh lớn với các mặt hàng trong nước, các doanh nghiệp phải thay đổi với tình hình thực tế, cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng. Thông qua việc nhập khẩu, quá trình chuyển giao công nghệ sẽ giúp kinh tế các quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển, không ngừng cải thiện. Việc nhập khẩu giúp các nước này học hỏi, kế thừa nhanh chóng những cải tiến mới tạo nên sự cân bằng về trình độ sản xuất giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giúp các quốc gia đang phát triển tiết kiệm nhiều chi phí và thời gian nghiên cứu phát triển công nghệ. Vai trò của nhập khẩu đối với doanh nghiệp Thông qua hoạt động nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ các doanh nghiệp đổi mới cải tiến công nghệ chất lượng dịch vụ sản phẩm để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa,ua đó hiệu quả sản xuất được nâng cao, người lao động tìm được việc làm.
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động trên phạm vi quốc tế có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau nên các doanh nghiệp nhập khẩu phải luôn hoàn thiện và đổi mới công tác quản trị kinh doanh cho cán bộ cá nhân, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn của các nhân viên trong doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu hàng hóa có vai trò làm tăng vị thế và uy tín của công ty ở cả thị trường trong nước và quốc tế. Lợi nhuận do kinh doanh đem lại cho phép công ty xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mở rộng các lĩnh vực kinh doanh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. 10 Nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết giữa các chủ thể trong và ngoài nước xuất phát từ lợi ích cả hai bên.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhập khẩu thiết bị, linh kiện điện tử ngoại vi Hoạt động nhập khẩu thiết bị, linh kiện điện tử ngoại vi đang chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, ta có thế chia các yếu tố này theo hai nhóm chính là yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.
Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Mối quan hệ giữa hai đối tác xuất - nhập khẩu Trung Quốc là quốc gia có giao thương lâu đời nhất với nước ta, do đó việc nhập khẩu hàng hóa từ quốc gia này dễ dàng hơn các nước khác, đối tác Trung Quốc cũng nắm rõ về tình hình nước ta nên có thể đáp ứng hàng hóa đúng và đủ theo yêu cầu. Với thị trường Việt Nam, hàng hóa Trung Quốc từ lâu đã rất phổ biến. Kể từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước vào năm 1991 cho đến nay, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng trở nên gần gũi hơn, thể hiện rõ nhất qua việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa hai nước. So với tổng kim ngạch nhập khẩu từ các thị trường của Việt Nam, nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2019 chiếm 29,8%, năm 2020 chiếm 32%, năm 2021 chiếm 33,1%, cả năm 2022 chiếm 32,9%.
Tỷ trọng có chiều hướng tăng lên và lớn hơn nhiều so với các thị trường lớn thứ 2 trở xuống (như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Thái Lan,…). Các mặt hàng thiết bị, linh kiện điện tử ngoại vi được Việt Nam ưu tiên nhập khẩu từ Trung Quốc từ những năm 2000, khi Việt Nam đón nhận các làn sóng đầu tư mảng sản xuất thiết bị, sản phẩm điện tử do các công ty, tập đoàn trên thế giới dẫn đầu. Trong năm 2022, theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã nhập khẩu 117,95 tỷ USD hàng hóa từ Trung Quốc, chiếm tới 32,9% tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa năm 2022; nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện có kim ngạch nhập khẩu cả năm đạt 81,88 tỷ USD, trong đó thị phần của Trung Quốc chiếm khoảng 29,3%. 11 Nguyên nhân chính là do mẫu mã hàng điện tử của Trung Quốc đa dạng, chất lượng hàng tốt do nước bạn có nền công nghệ kỹ thuật hiện đại hơn nhiều so với nước ta.
Nếu so sánh với giá thì hàng hóa Trung Quốc sản xuất luôn rẻ hơn các thị trường khác mà vẫn đầy đủ chức năng và tương đương hiệu năng. Yếu tố kinh tế: Một quốc gia có quy mô và tiềm năng tăng trưởng kinh tế càng lớn, càng mở rộng cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài, trong cả lĩnh vực đầu tư và thương mại.