Chương 1 còn nêu ra những nguyên nhân cũng như những biện pháp mà Chính phủ các nước sử dụng để can thiệp vào thị trường ngoại hối, đồng thời nêu những kinh nghiệm về chính sách điều hành tỷ giá của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.1 Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái 1.1 Tỷ giá hối đoái 1.1 Khái niệm Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô, nó đang là một chủ đề được tranh luận nhiều và sôi nổi vào bậc nhất của kinh tế học. Cho đến nay, đã có rất nhiều lý thuyết giải thích sự hình thành và dự đoán sự biến động của tỷ giá. Tuy nhiên, trong khi nhiều chủ đề của kinh tế học vĩ mô đã đạt được sự nhất trí cao của các nhà kinh tế học thì vẫn còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh chủ đề tỷ giá hối đoái, vẫn chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh về tỷ giá hối đoái. Sự chưa hoàn chỉnh của các lý thuyết về xác định tỷ giá hối đoái là do việc phân tích xuất phát từ những thị trường đơn lẻ như thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, thị trường vốn.
Trong khi đó tỷ giá lại chịu tác động qua lại của nhiều yếu tố với các mức độ khác nhau: từ các yếu tố thực, có thể đo lường được đến các yếu tố tâm lý, kỳ vọng. Hơn nữa, bản thân các yếu tố này lại có tác động qua lại lẫn nhau và chịu tác động trở lại của tỷ giá trong một khuôn khổ biến động. Do vậy, có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái như: Samuelson – nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: Tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền của một nước lấy tiền một nước khác Slatyer – nhà kinh tế người Úc, trong một cuốn sách thị trường ngoại hối, cho rằng: Một đồng tiền của một nước nào đó thì bằng giá trị của một số lượng đồng tiền nước khác. Christopher Pass và Bryan Lowes, người Anh trong Dictionary of Exonomics xuất bản lần thứ hai, cho rằng: Tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua giá một tiền tệ khác.
Các khái niệm trên đây đều phản ánh một số khía cạnh khác nhau của tỷ giá hối đoái. Do đó, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát: Tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate hay Exchange Rate) là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác. 123doc Tỷ giá hối đoái có thể được định nghĩa bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi một đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi một đơn vị ngoại tệ. Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá trị đồng ngoại tệ thường sử dụng cách thứ hai.
Chẳng hạn như ở Việt Nam, thường người ta nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận được khi đổi một USD, một EUR hay một JPY. Trong thực tế, cách sử dụng tỷ giá như vậy thuận lợi hơn. Theo cách này ta có định nghĩa: Tỷ giá hối đoái là tỷ số phản ánh lượng nội tệ thu được khi đổi một đơn vị ngoại tệ. Về bản chất, tỷ giá hối đoái chính là giá của đồng tiền nước này so với đồng tiền nước khác.
Tỷ giá tăng, chẳng hạn từ 16030VND/USD lên 16050VND/USD có nghĩa là giá của USD tăng và giá của VND giảm. Điều này có nghĩa là nếu trước đây chỉ cần 16030 VND là mua được 1 USD thì bây giờ phải cần đến 16050VND mới mua được 1 USD, tức USD tăng giá. Nói ngược lại, trước đây 1 USD chỉ mua được 16030 VND, bây giờ có thể mua được 16050 VND tức đồng Việt Nam bị giảm giá. Như vậy, khi tỷ giá hối đoái tăng ta nói đồng ngoại tệ tăng giá hay lên giá hay có giá hơn trước (appreciation), tức đồng nội tệ giảm giá hay sụt giá hay mất giá (depreciation).
Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm ta nói đồng ngoại tệ giảm giá hay sụt giá hay mất giá, tức đồng nội tệ tăng giá hay lên giá hay có giá hơn trước. Tỷ giá thị trường được quyết định bởi cung và cầu về ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Cầu về ngoại tệ được sinh ra từ hai nguồn: một là lượng hàng hóa, dịch vụ, tài sản của nước ngoài mà người trong nước muốn mua; hai là luợng vốn, lượng thu nhập và các khoản chuyển nhượng ra nước ngoài. Cung ngoại tệ cũng được sinh ra từ hai nguồn: một là lượng hàng hóa, dịch vụ, tài sản trong nước mà người nước ngoài muốn mua; hai là luợng vốn, lượng thu nhập và các khoản chuyển nhượng từ nước ngoài vào trong nước. Quy luật thay đổi của cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối là: khi tỷ giá tăng thì cung ngoại tệ tăng và cầu ngoại tệ giảm, khi tỷ giá giảm thì cung ngoại tệ giảm và cầu ngoại tệ tăng.
Cung ngoại tệ đồng biến với tỷ giá hối đoái, cầu ngoại tệ nghịch biến với tỷ giá hối đoái. Sở dĩ có sự thay đổi như vậy là vì khi tỷ giá tăng, tức đồng ngoại tệ lên giá hay đồng Việt Nam sụt giá, thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài, làm cho người nước ngoài muốn mua hàng trong nước nhiều hơn, từ đó lượng cung ngoại tệ tăng. Mặt khác, khi tỷ giá tăng thì hàng hóa nước ngoài trở nên mắc hơn đối với người trong nước, làm cho người trong nước giảm mua hàng nước ngoài, từ đó cầu về ngoại tệ cũng giảm theo Mức tỷ giá cân bằng được xác định tại giao điểm giữa đường cung và đường cầu ngoại tệ. Tại đây cung và cầu ngoại tệ bằng nhau.
Nếu tỷ giá trong thực tế khác với tỷ giá cân bằng thì thị trường sẽ tự điều chỉnh để đưa trở về tỷ giá cân bằng. Tỷ giá cân bằng một khi đã được xác lập trên thị trường thì nó sẽ giữ ổn định ở đó cho đến khi có các yếu tố khác làm thay đổi cung hoặc cầu ngoại tệ. Nếu các yếu tố đó làm cho cung hay cầu ngoại tệ tăng thì đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển sang phải. Ngược lại, nếu cung hay cầu ngoại tệ giảm thì đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển sang trái.1: Cung cầu ngoại tệ Tỷ giá cân bằng E DD: đường cầu ngoại tệ SS: đường cung ngoại tệ SS E DD 1.2 Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái Trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, việc hình thành tỷ giá hối đoái cũng dựa vào các cơ sở khác nhau.
Tỷ giá hối đoái được hình thành theo ba cơ sở sau: - Trong thời kỳ đầu, khi mới hình thành tỷ giá hối đoái, người ta lấy vàng làm bản vị. Tất cả các quốc gia sẽ ấn định một số tiền tệ cố định cho mỗi ounce vàng. Cho tới Thế chiến thứ nhất, nước Anh dựa theo định mức vàng và tiên phong trong việc đổi vàng thành tiền và ngược lại. Trong thời kỳ này người ta gọi là thời kỳ của chế độ bản vị vàng.
Trong chế độ này thì biên độ dao động của tỷ giá gọi là điểm vàng, bằng ngang giá vàng được cộng hoặc trừ chi phí vận chuyển vàng giữa các nước. Tuy nhiên sau đó, những gánh nặng về tài chính của Thế chiến thứ nhất buộc nước Anh phải bán phần lớn vàng dự trữ của họ và chế độ bản vị vàng chấm dứt từ đó - Khi vàng không còn được sử dụng để làm cơ sở xác định tỷ giá hối đoái giữa các nước thì người ta sử dụng một thứ "đặc biệt" khác để làm căn cứ. Đó chính là đồng Đôla Mỹ (USD). Sở dĩ như vậy bởi vì trong lúc này, nước Mỹ đã không bị thiệt hại gì do chiến tranh mà lại còn là một quốc gia giàu có nhất thế giới nhờ những món lợi nhuận kếch xù thu được từ sản xuất và bán vũ khí.
Trong mối tương quan so sánh giữa nước Anh và nước Mỹ, Mỹ có ý đồ chuyển vị thế đồng USD của mình thành đồng tiền thống trị trong dự trữ và thanh toán quốc tế. Ngày 22 tháng 7 123doc năm 1944, Hội nghị Bretton Woods giữa Mỹ và các nước đồng minh đã thiết lập IMF, WB và bản vị vàng hối đoái. Chế độ tỷ giá này còn được gọi là chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods. Vì bản chất của tỷ giá hối đoái thời kỳ này là dựa trên cơ sở đồng USD nên chúng ta có thể hiểu nó chính là chế độ "Bản vị đồng USD".
Theo chế độ này, tỷ giá hối đoái chính thức giữa đồng tiền của các nước thành viên được hình thành trên cơ sở so sánh lượng vàng của USD (1USD=0,888671 gram vàng nguyên chất), do vậy, thực chất là tỷ giá hối đoái vẫn phải dựa vào hàm lượng vàng trong các đồng tiền. Người ta so sánh hàm lượng vàng có trong mỗi đồng tiền với hàm lượng vàng trong đồng USD rồi từ đó xác định tỷ giá hối đoái giữa nước mình với nước Mỹ. Các tỷ giá hối đoái này chỉ được phép dao động trong biên độ 1% của tỷ giá chính thức được đăng ký tại IMF. Trong trường hợp tỷ giá vượt quá biên độ 1% thì Ngân hàng TW phải can thiệp bằng cách mua vào hoặc bán ra một lượng USD nhất định - Từ năm 1958 đến 1961, sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán của nước Mỹ lên đến 56 tỷ USD, lượng vàng dự trữ giảm từ 24,8 tỷ USD xuống còn 12,2 tỷ USD, nợ nước ngoài tăng từ 13,6 tỷ USD lên đến 62,2 tỷ USD.
Sự mất giá của đồng USD làm cho nạn đầu cơ tiền tệ trên thị trường quốc tế tăng lên. Hàng tỷ USD đã được tung ra trên thị trường để mua các đồng tiền được giá. Các Ngân hàng TW của các nước thành viên IMF cũng không đủ sức can thiệp để giữ đồng USD theo nguyên tắc tỷ giá Bretton Woods. Trong bối cảnh đó, ngày 15 tháng 8 năm 1971, Tổng thống Mỹ Nichxon cùng Bộ trưởng ngân khố John Connally đã tuyên bố Mỹ sẽ không đổi vàng để lấy USD từ các Ngân hàng TW nước ngoài nữa.
Nếu như chế độ "Bản vị đồng USD" tồn tại được là trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng trong đồng USD với các đồng tiền khác thì đối với các đồng tiền không mang hàm lượng vàng người ta phải sử dụng một cách khác để xác định tỷ giá hối đoái.