Chương 1: Lý thuyết về chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2: Thực trạng chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 1995-2012. Chương 3: Nghiên cứu định lượng sự tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại TP. Chương 4: Kết luận và khuyến nghị.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1. Lý thuyết về chi tiêu công 1. Khái niệm Chi tiêu công là một trong những thuộc tính vốn có khách quan của khâu tài chính công, phản ánh sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công của nhà nước. Hay nói khác hơn, chi tiêu công trực tiếp trả lời câu hỏi: "Nhà nước chi cho cái gì".
Trong khuôn khổ tài chính công, chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ. Ngoại trừ các khoản chi của các quỹ ngoài ngân sách, về cơ bản chi tiêu công thể hiện các khoản chi của ngân sách Chính phủ hàng năm được Quốc hội thông qua. Vì vậy, trong phạm vi của đề tài này, chi tiêu công được hiểu một cách ngắn ngọn của chi ngân sách nhà nước (quá trình sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực thi nhiệm vụ của bộ máy nhà nước và các mục tiêu chính sách từng giai đoạn). Những đặc điểm cơ bản của chi tiêu công Chi tiêu công có một số đặc điểm cơ bản sau đây: - Điểm nổi bật của chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia.
Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện của nền kinh tế- xã hội của nhà nước và cũng chính là quá trình thực hiện chức năng đó của nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước thực hiện. Các khoản chi tiêu công do chính quyền các cấp đảm nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện các chức năng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội. Song song đó, các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi tiêu công cộng nhằm thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia.
- Các khoản chi tiêu hoàn toàn mang tính công cộng. Chi tiêu công tương ứng với những đơn đặt hàng của Chính phủ về mua hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Đồng thời đó cũng là những khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho công chức nhà nước, chi hàng hóa dịch vụ công đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người dân,. - Các khoản chi tiêu công cộng mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp.
Điều này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công cộng. Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của nhà nước. Lý thuyết về chi tiêu công Các lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng: Trong một số trường hợp, việc cắt giảm hay gia tăng quy mô chi tiêu công đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Đường cong RAHN Nhà kinh tế học Richard Rahn (1986) đã đưa ra biểu đồ biểu diện mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế. Biểu đồ này gọi là "Đường cong Rahn" (The Rahn Curve) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Hình 1: Đƣờng cong Rahn (Nguồn: The Rahn Curve Chart from www.com) Trên biểu đồ đường cong Rahn: - Trục tung biểu diễn tốc độ tăng trưởng kinh tế. - Trục hành biểu diện chi tiêu công theo % GDP. - Đường cong Rahn có dạng lồi so với góc tọa độ.
- Đỉnh của đường cong Rahn thể hiện mức chi tiêu công tối ưu đối với tăng trưởng kinh tế. Quy mô tối ưu này không có con số chính xác nhưng dao động khoảng từ 15% đến 25% GDP. Đường cong Rahn hàm ý: tăng trưởng kinh tế sẽ đạt được tối đa khi chi tiêu công là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hóa công cơ bản như cơ sở hạ tầng…. Tuy nhiên, chi tiêu công sẽ có hại đối với tăng trưởng kinh tế nếu nó vượt qua mức giới hạn này, tức là chi tiêu công nằm phía biên kia dốc của đường cong Rahn.
Trường phái của John Maynard Keynes Các nhà kinh tế học theo trường phái của Keynes cho rằng: chi tiêu công – đặc biệt là các khoản chi tiêu thông qua vay nợ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhờ làm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tăng sức mua (tổng cầu) của nền kinh tế. Nhưng lý thuyết của trường phái Keynes đã bỏ qua một sự thật là Chính phủ không thể bơm sức mua vào nền kinh tế trước khi làm giảm nó thông qua thuế và vay nợ. Các trường phái kinh tế khác Các nhà kinh tế khác cho rằng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, họ lập luận như sau: CẮT GIẢM CẮT GIẢM GIẢM LÃI SUẤT CHI TIÊU CÔNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH TĂNG ĐẦU TƯ TĂNG NĂNG SUẤT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Lập luận này sẽ đúng nếu như mối quan hệ giữa các biến số trên là chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng giả thiết trên đã đề cao quá mức mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, lãi suất, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
Các quan điểm thuộc các trường phái kinh tế khác không đưa ra câu hỏi rõ ràng về mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế nhưng hầu hết các nhà kinh tế học đều đồng ý rằng: trong những trường hợp nhất định việc cắt giảm chi tiêu công sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và có những trường hợp việc gia tăng chi tiêu công là có lợi cho tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế 1. Khái niệm Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định. Bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự đảm bảo gia tăng cả quy mô sản lượng và sản lượng bình quân trên đầu người.
Một cách tổng quát, ta có thể đo lường tăng trưởng kinh tế bằng các chỉ tiêu: tổng sản phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm tính bình quân đầu người. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Tổng sản phẩm quốc nội- GDP (Gross Domestic Product): GDP là giá trị bằng tiền của tất cả các sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên phạm vi lãnh thổ của một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). GDP thường được tính bằng 3 phương pháp sau: * Phƣơng pháp 1: Phƣơng pháp trực tiếp (theo tổng thu nhập) W: tiền lương R: thu nhập cho thuê i: thu nhập của người cho vay (lãi) GDP = W + R + i+ Π+ Ti + De Π: lợi nhuận của chủ doanh nghiệp Ti: thuế gián thu De: bù đắp hao mòn tài sản cố định * Phƣơng pháp 2: Phƣơng pháp gián tiếp (theo giá trị gia tăng) GDP = VA Trong đó: VA= giá trị sản lượng- giá trị sản phẩm trung gian * Phƣơng pháp 3: theo luồng chi tiêu C: tiêu dùng của hộ gia đình I: chi cho đầu tư GDP = C + I + G + X - M G: chi tiêu của Chính phủ X: giá trị hàng xuất khẩu M: giá trị hàng nhập khẩu Tổng sản phẩm quốc dân- GNP (Gross National Product): là giá trị bằng tiền của tất cả các sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân của một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). NFFI: thu nhập yếu tồ ròng từ nước ngoài.
IFFI: thu nhập từ nước ngoài chuyển vào trong nước. GNP = GDP+NFFI= GDP+IFFI- OFFI OFFI: thu nhập từ trong nước chuyển ra nước ngoài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Tổng sản phẩm tính bình quân đầu người (mức thu nhập bình quân đầu người- PCI- Per Capital Income): PCI = Y/P với Y: GDP (GNP), P: tổng dân số. Các công thức đo lƣờng tăng trƣởng kinh tế: Xác định mức tăng trưởng tuyệt đối: ΔY= Yt – Y0 Y: GDP, GNP.
Yt: GDP, GNP tại thời điểm tăng trưởng kinh tế của thời kỳ phân tích. Y0: GDP, GNP tại thời điểm gốc của thời kỳ phân tích. Xác định mức tốc độ tăng trưởng: gy = ΔY/Y0 x 100 Y: GDP, GNP. ΔY: mức gia tăng trưởng kinh tế GDP hoặc GNP giữa hai thời điểm.
Y0: GDP, GNP tại thời điểm gốc. Các mô hình tăng trưởng kinh tế STT TÊN LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN Adam Smith (thế kỷ XVII): Là người đầu tiên đưa ra mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa dựa trên tiết kiệm và đầu tư cao. Adam Smith đã dựa trên quá trình tích lũy tư bản, với tư LÝ THUYẾT tưởng ủng hộ tự do cạnh tranh và giảm thiểu sự can TĂNG thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế. Ông cho rằng 1 TRƢỞNG muốn tăng trưởng kinh tế thì phải phát triển đầu tư KINH TẾ nhờ việc cắt giảm tiêu dùng.
CỔ ĐIỂN David Ricardo (thế kỷ XVIII) Giới hạn nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế là tài nguyên thiên nhiên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Karl Marx (thế kỷ XIX) Lý thuyết về sự phát triển của tư bản chủ nghĩa quy luật giá trị thặng dư. John Maynard Keynes (thế kỷ XX) MÔ HÌNH Các nền kinh tế hiện đại cần các chính sách chủ TĂNG động để quản lý và tăng trưởng kinh tế. TRƢỞNG Roy F.
Harrord và Evsey Domar (1940) 2 KINH TẾ Nguồn bốn của tăng trưởng kinh tế chính là lượng TRƢỜNG vốn tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của PHÁI quốc gia.