chương 1 đưa ra bố cục năm chương của khóa luận và giới thiệu những nội dung quan trọng sẽ được thảo luận trong mỗi chương. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 giới thiệu những khía cạnh lý thuyết quan trọng liên quan chặt chẽ đến vấn đề nghiên cứu. Chương này cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu khoa học đã công bố ở nước ngoài và ở Việt Nam, xác định các khoảng trống ở kết quả công bố trước đây, cũng như xác định các yếu tố có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động làm cơ sở hình thành mô hình. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 2.
Khái niệm về cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Yếu tố tạo nên sự tác động đặc biệt đối với mỗi thị trường, mỗi lĩnh vực nghiên cứu trên toàn thế giới chính là sự cạnh tranh. Đối với vấn đề cạnh tranh trong ngành ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn, sự ổn định của NHTM và ngành tài chính, thậm chí là mở rộng hơn với toàn bộ nền kinh tế. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF, 1997) về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là kỹ năng và năng lực của doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị phần, có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với tiêu chuẩn vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác ở nội địa và trên toàn thế giới, thu về lợi nhuận trong môi trường kinh doanh có nhiều đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được phản ánh qua hiệu suất hoạt động, lợi nhuận & thị phần, đồng thời đạt được mục tiêu do họ đặt ra.
Còn theo Michael Porter (2015): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp khả năng nắm giữ và chiếm lĩnh thị trường của chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt được hiệu quả tối ưu trong một môi trường kinh doanh cụ thể”. Nguyễn Thị Quy (2008) nhận định: “Khả năng cạnh tranh của một NHTM là khả năng mà ngân hàng đó tạo ra, duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc 9 tài trợ những mục tiêu, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà ngân hàng đề ra.” Trong phạm vi khóa luận, khả năng cạnh tranh của NHTM là khả năng của một chủ thể kinh doanh như (doanh nghiệp, ngành, quốc gia) đạt được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường bằng cách thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của KH và tạo ra nhiều giá trị cho họ trên cùng thị trường vào cùng thời điểm. Năng lực cạnh tranh là một khái niệm có nhiều khía cạnh để xem xét (Aldington Report, 1985) tuy nhiên có thể đánh giá này dựa trên 4 yếu tố sau: Hiệu quả (Effectiveness): được biểu hiện trong việc ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn so với các đối thủ cùng khu vực. Năng suất chính là yếu tố nền tảng của hiệu quả hoạt động.
Sự lựa chọn (Choice): được thể hiện ở các chiến lược được lựa chọn trong nhiều lĩnh vực khác nhau để mang đến nhiều giá trị gia tăng tiềm năng tốt hơn đối thủ cạnh tranh. Nguồn lực (Resources): bao gồm khả năng huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện các lựa chọn và cách quản lý nguồn lực để hoạt động tốt và hiệu quả. Mục tiêu (Objectives): Năng lực cạnh tranh là công cụ để cạnh tranh, là đòn bẩy để giúp ngân hàng duy trì hoạt động và phát triển kinh tế bền vững. Đo lƣờng sự cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Trong nhiều thập kỷ, cạnh tranh luôn là chủ đề nóng và thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
Trong việc đo lường cạnh tranh trong ngành ngân hàng, có hai phương pháp quan trọng là cách tiếp cận cấu trúc và cách tiếp cận phi cấu trúc. Cách tiếp cận cấu trúc (Structural Approach) dựa trên giả thuyết "cấu trúc - hành vi - hiệu quả" hay còn gọi là SCP, đã được Mason (1939) đề xuất. Theo đó, Mason 10 cho rằng thị trường ngân hàng càng tập trung cao thì hành vi cạnh tranh càng kém, và từ đó lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng. Với cách tiếp cận này, các đặc điểm của cạnh tranh được lấy từ các đặc điểm cấu trúc, mà cấu trúc lại là yếu tố quyết định hành vi; hành vi ảnh hưởng đến hiệu suất do đó mà cấu trúc ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Phương pháp này lấy thông tin từ cấu trúc thị trường, chẳng hạn như chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) để đo lường mức độ cạnh tranh. Tuy nhiên, HHI có hạn chế khi chỉ xem xét cấu trúc thị trường mà không đo lường trực tiếp hành vi cạnh tranh của các ngân hàng. Sau những hạn chế được phát hiện đến từ cách tiếp cận cấu trúc, cách tiếp cận phi cấu trúc ra đời (New Emprical Industry Organisation - NEIO) nhằm khắc phục những khiếm khuyết của cách tiếp cận trước. Phương pháp đo lường NEIO bắt đầu từ góc độ phi cấu trúc với mục tiêu đo lường cạnh tranh bằng cách suy luận trực tiếp từ hành vi của doanh nghiệp mà không xem xét đến việc phân tích cấu trúc thị trường (Degryse et al., 2009), đồng thời yêu cầu ước tính các phương trình dựa trên các mô hình lý thuyết về xác định giá & sản lượng.
Do đó, nhiều mô hình với sự xuất hiện của các chỉ số đo lường cạnh tranh ra đời và sử dụng chúng một cách rộng rãi trong nhiều nghiên cứu học thuật, bao gồm các chỉ số Lerner (1930), chỉ số H của Rosse-Panzar (1987) và chỉ số Boone (2008). Mỗi mô hình phản ánh mức độ cạnh tranh của các ngân hàng ở mỗi phương diện tiếp cận khác nhau, cụ thể: 2. Chỉ số thống kê H H-Statistic được tính toán dựa trên mô hình đánh giá mức độ cạnh tranh do Panzar và Rose phát triển năm 1987 và được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu thực tế về cạnh tranh ở lĩnh vực ngân hàng vì sự có sẵn dữ liệu và khả năng tính toán đơn giản. Nó đo lường mức biến đổi trong doanh thu của các ngân hàng dựa trên biến đổi trong chi phí đầu vào tương ứng.
Chỉ số H-Statistic càng cao thì khả năng cạnh tranh giữa hệ thống ngân hàng càng lớn. Thông thường, chỉ số H- Statistic sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong một lĩnh vực cụ thể hoặc để so sánh mức độ cạnh tranh giữa các thị trường khác nhau hay đo 11 lường tác động của các yếu tố chi phí đến doanh thu của chúng. Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách định nghĩa và thông số đầu vào của chi phí trong các nghiên cứu có thể dẫn đến sự biến đổi trong kết quả của chỉ số H-Statistic. Nhưng khi muốn đánh giá tình trạng của nhóm ngành là cạnh tranh hoàn hảo hay độc quyền thì chỉ số H vẫn là lựa chọn phù hợp.
Chỉ số Boone Chỉ số Boone (BI) là một thước đo dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh trong một ngành hoặc thị trường cụ thể dựa trên mô hình phát triển bởi Boone vào năm 2008. Nó thể hiện mức độ phân phối lợi nhuận hoặc hiệu suất giữa các công ty hoặc đơn vị sản xuất trong ngành hoặc thị trường. Chỉ số Boone thường được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế học và xã hội, đặc biệt là trong việc phân tích dữ liệu panel. Chỉ số Boone thường nằm trong khoảng từ -1 đến 1: Nếu BI gần 0, có thể ngành đang đối mặt với mức độ cạnh tranh trung bình; nếu BI > 0, có thể có dấu hiệu về sự thiếu cạnh tranh và nếu BI < 0, có thể có dấu hiệu về mức độ cạnh tranh tốt.
Đặc biệt là, chỉ số Boone thường có giá trị âm, cho biết rằng chi phí cận biên càng tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm. Không chỉ vậy, khi giá trị tuyệt đối của BI càng lớn thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng gay gắt. Chỉ số Lerner Trong số các phương pháp tiếp cận phi cấu trúc, cả chỉ số H-statistics và chỉ số Boone đều mang những hạn chế quan trọng có thể gây ra giới hạn trong việc giải thích kết quả của nghiên cứu. Chỉ số H-statistics là một thước đo tĩnh và nó dựa vào giả định về sự cân bằng của thị trường, tuy nhiên giả định này thường không phản ánh đúng thực tế do sự gia nhập vào và rút lui khỏi ngành (Claessens và Laeven, 2004).
Chỉ số Boone khai thác việc tái phân bổ từ đơn vị không hiệu quả sang đơn vị hiệu quả, là một đặc tính nổi bật của việc tăng cường sức mạnh thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả đôi khi không thể hiện ở chi phí thấp hơn hay lợi nhuận cao hơn. Ngược lại, chỉ số Lerner được chứng minh có lợi thế hơn so với H-statistic và chỉ số Boone. Trong khi mô hình Rosse-Panzar (1987) chỉ tập trung vào việc chuyển đổi 12 giá trị của đầu vào thành doanh thu trong các ngân hàng, mô hình Lerner có khả năng đo lường sức mạnh thị trường ở mức độ từng ngân hàng cụ thể.
Theo Maudos và Solís (2011), Lerner là một chỉ số đo lường cạnh tranh dựa trên vấn đề về tối ưu hóa trong hoạt động của ngân hàng và do đó có nền tảng lý thuyết vững chắc. Trong khi hầu hết các phương pháp tiếp cận khác đều đo lường cạnh tranh tổng thể cho toàn bộ ngành hoặc thị trường thì chỉ số Lerner là một trong số ít phương pháp có khả năng đo lường cạnh tranh ở mức từng ngân hàng và theo thời gian. Điều này cho phép nắm bắt và xác định được những thay đổi trong hành vi của từng ngân hàng trong cùng một thị trường hoặc qua các năm và cung cấp cái nhìn sâu hơn về sức mạnh thị trường của mỗi ngân hàng (Berger và cộng sự, 2009). Phan Thị Thơm, Thân Thị Thu Thủy (2015) nhận định trong mô hình tiếp cận mới gồm chỉ số H, chỉ số Boone và chỉ số Lerner thì chỉ số Lerner được đánh giá là phù hợp nhất và tốt hơn so với các chỉ số đo lường cạnh tranh truyền thống còn lại.