Nghiên cứu yếu tố và giá trị tiên lượng của suy yếu - thiếu cơ ở người cao tuổi

Luận án Tiến sĩ Y học về suy yếu - thiếu cơ ở người cao tuổi. Phân tích các yếu tố liên quan và giá trị tiên lượng các kết cục sức khỏe bất lợi.

Chuyên ngành

Nội khoa (Lão khoa)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Y học

2023

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Định Nghĩa và Khái Niệm về Suy Yếu Thiếu Cơ

Suy yếu – thiếu cơ là một hội chứng phức tạp ở người cao tuổi, kết hợp giữa suy yếu (frailty) và thiếu cơ (sarcopenia). Đây là tình trạng sức khỏe bất lợi đặc trưng bởi mất khối lượng cơ, sức mạnh giảm sút và chức năng thể chất suy giảm. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Thiếu cơ châu Á (AWGS), tình trạng này được định nghĩa dựa trên sự thay đổi về khối lượng cơ tứ chi, sức lực tay và khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày. Suy yếu – thiếu cơ không chỉ là vấn đề về sức khỏe sinh lý mà còn liên quan đến nhiều yếu tố xã hội, tâm lý và môi trường. Việc hiểu rõ về khái niệm này giúp các chuyên gia y tế phát hiện sớm và can thiệp kịp thời để cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

1.1. Suy Yếu Frailty Syndrome

Suy yếu là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự suy giảm chức năng sinh lý và khả năng đáp ứng với các tác nhân gây stress. Tình trạng này bao gồm: giảm sức mạnh cơ, giảm tốc độ vận động, giảm hoạt động thể chất, mệt mỏi, và sụt cân không do ý muốn. Các tiêu chí Fried được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán suy yếu ở người cao tuổi, bao gồm năm thành phần cơ bản.

1.2. Thiếu Cơ Sarcopenia

Thiếu cơ là tình trạng mất khối lượng và sức mạnh cơ liên quan đến tuổi tác. Theo định nghĩa của EWGSOP (Hiệp hội châu Âu), thiếu cơ được xác định thông qua phân tích khối lượng cơ tứ chi bằng công nghệ DXA hoặc BIA, kết hợp với đánh giá sức mạnh cơ (handgrip strength) và chức năng cơ. Thiếu cơ là yếu tố chính góp phần vào suy yếu và các kết cục bất lợi ở người cao tuổi.

II. Các Yếu Tố Nguy Cơ và Liên Quan đến Suy Yếu Thiếu Cơ

Nhiều yếu tố nguy cơ góp phần vào sự phát triển của suy yếu – thiếu cơ ở người cao tuổi. Các yếu tố này bao gồm cả yếu tố nội tại và ngoại tại. Tuổi tác càng cao, nguy cơ suy yếu – thiếu cơ càng gia tăng, đặc biệt ở những người trên 75 tuổi. Giới tính nam có xu hướng có tỷ lệ thiếu cơ cao hơn nữ giới. Dinh dưỡng kém là một trong những yếu tố chính, liên quan đến thiếu hụt protein, vitamin D và các chất dinh dưỡng quan trọng khác. Bệnh lý mạn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính làm tăng nguy cơ suy yếu. Hoạt động thể chất thấp, trầm cảm, cô lập xã hội cũng là những yếu tố góp phần quan trọng.

2.1. Yếu Tố Dinh Dưỡng và Lối Sống

Dinh dưỡng không đầy đủ đặc biệt thiếu protein là nguyên nhân chính gây thiếu cơ ở người cao tuổi. Hàm lượng protein cần thiết hàng ngày tăng lên khi tuổi cao. Hoạt động thể chất đều đặn giúp duy trì khối lượng và sức mạnh cơ, ngược lại, lối sống ít vận động là yếu tố góp phần đáng kể. Uống rượu quá mứchút thuốc cũng làm tăng nguy cơ suy yếu – thiếu cơ.

2.2. Yếu Tố Y Tế và Tâm Lý Xã Hội

Bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường loại 2, bệnh tim mạch là những yếu tố nguy cơ độc lập. Trầm cảmstress tâm lý làm suy giảm sơ suất chăm sóc sức khỏe. Cô lập xã hộithiếu sự hỗ trợ gia đình ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng suy yếu. Các biến chứng từ falls (ngã) làm giảm hoạt động thể chất và tăng nguy cơ suy yếu tiếp theo.

III. Tiên Lượng và Kết Cục Bất Lợi của Suy Yếu Thiếu Cơ

Suy yếu – thiếu cơtiên lượng nghiêm trọng với nhiều kết cục bất lợi đối với sức khỏe người cao tuổi. Người bị suy yếu – thiếu cơ có nguy cơ cao bị ngã, dẫn đến gãy xương, mất độc lập chức năng, và nhập viện thường xuyên. Các nghiên cứu cho thấy người bị suy yếu – thiếu cơ có nguy cơ tử vong cao gấp 3-4 lần so với những người bình thường cùng tuổi. Mất chức năng hoạt động hàng ngày (ADL) là hậu quả phổ biến nhất, làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng gánh nặng chăm sóc. Nhập việnnằm viện lâu dài làm tăng biến chứng và chi phí y tế. Những người mắc suy yếu – thiếu cơ cũng có nguy cơ cao mắc suy giảm nhận thứcsa sút tâm thần.

3.1. Các Kết Cục Trực Tiếp về Chức Năng

Mất khả năng hoạt động hàng ngày là kết cục trực tiếp nhất của suy yếu – thiếu cơ. Người bệnh không thể tự chăm sóc bản thân, khó khăn trong tắm rửa, mặc quần áo, ăn uống. Ngã và gãy xương là biến chứng nguy hiểm, gây đau đớn, mất tính mạng trong trường hợp nặng. Phụ thuộc vào người chăm sóc làm ảnh hưởng đến tâm lýtự do cá nhân.

3.2. Các Kết Cục Dài Hạn về Sức Khỏe

Tử vong sớm là kết cục đáng lo ngại nhất, với tỷ lệ tử vong cao ở người có suy yếu – thiếu cơ nặng. Nhập viện thường xuyênnằm viện lâu dài gây biến chứng bệnh viện, tình trạng sức khỏe xấu đi. Suy giảm nhận thứcdementia có liên quan chặt chẽ với suy yếu – thiếu cơ, làm tổn hại tính mạng của bệnh nhân.

IV. Chiến Lược Phòng Ngừa và Can Thiệp Suy Yếu Thiếu Cơ

Để cải thiện tiên lượng và giảm kết cục bất lợi, cần có những chiến lược can thiệp toàn diện ngay từ sớm. Sàng lọc và chẩn đoán sớm suy yếu – thiếu cơ là bước quan trọng đầu tiên, sử dụng các công cụ như thang đo SARC-F, bài kiểm tra TUG, đo sức lực tay. Dinh dưỡng có vai trò then chốt, cần tăng cường protein (1.0-1.2g/kg/ngày), vitamin D, axit béo omega-3. Tập luyện thể chất định kỳ bao gồm tập sức mạnhtập cân bằng để duy trì khối lượng cơ và phòng ngừa ngã. Quản lý bệnh lý mạn tính hiệu quả, điều trị trầm cảm, tăng cường hoạt động xã hội là những yếu tố bổ sung quan trọng. Theo dõi định kỳđánh giá chức năng giúp phát hiện suy giảm sớm và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc kịp thời.

4.1. Can Thiệp Dinh Dưỡng và Tập Luyện

Chế độ ăn giàu protein (1.0-1.2g/kg cân nặng/ngày) là nền tảng của can thiệp dinh dưỡng. Bổ sung vitamin D (600-800 IU/ngày) giúp hấp thụ canxi tốt hơn. Tập lực kết hợp với tập aerobic ít nhất 2-3 lần/tuần giúp tăng khối lượng cơsức mạnh. Tập cân bằng giảm nguy cơ ngã.

4.2. Can Thiệp Toàn Diện và Theo Dõi

Quản lý y tế toàn diện bao gồm điều trị các bệnh lý kèm theo, quản lý thuốc tối ưu. Tăng cường kết nối xã hội thông qua các hoạt động cộng đồng, gia đình. Đánh giá định kỳ mỗi 3-6 tháng để phát hiện suy giảm sớm và điều chỉnh can thiệp kịp thời.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Già hóa dân số đã trở thành một trong những biến đổi xã hội quan trọng nhất của thế kỷ XXI, có tác động đến hầu hết các lĩnh vực của xã hội, bao gồm cả thị trường lao động và tài chính, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ, chẳng hạn như nhà ở, giao thông vận tải, bảo trợ xã hội, cũng như cấu trúc gia đình, mối quan hệ giữa các thế hệ, chăm sóc sức khỏe. Năm 2018, lần đầu tiên trong lịch sử, số người từ 65 tuổi trở lên đông hơn trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu. Số người từ 80 tuổi trở lên được dự báo sẽ tăng gấp ba lần, từ 143 triệu người vào năm 2019 lên 426 triệu người vào năm 20501. Suy yếu – Hội chứng dễ bị tổn thương (Frailty syndrome) là tình trạng người cao tuổi suy giảm cân bằng nội môi của một số hệ thống cơ thể và dễ bị tổn thương hơn đối với các yếu tố gây stress mà cuối cùng có thể dẫn đến các biến cố tiêu cực liên quan đến sức khỏe như tàn tật, gia tăng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thậm chí là tử vong2.

Khoảng 1/4 số người trên 85 tuổi mắc suy yếu do đó việc xác định những người cao tuổi suy yếu là một ưu tiên sức khỏe cộng đồng. Nhiều nghiên cứu cho rằng hội chứng suy yếu được xác định bằng sự mất dần nguồn dự trữ sinh học tuy nhiên có thể điều chỉnh quỹ đạo của hội chứng suy yếu thông qua các biện pháp can thiệp hoạt động thể chất và dinh dưỡng3-6. Thiếu cơ (Sarcopenia) được định nghĩa là sự mất dần khối lượng cơ và sức mạnh, đặc biệt là ở những người cao tuổi. Đó là do cấu trúc cơ mỡ của cơ thể thay đổi theo sự gia tăng của tuổi.

Chẩn đoán thiếu cơ bao gồm mức độ giảm của 3 đặc điểm sau: sức mạnh cơ, số lượng hoặc chất lượng cơ và hoạt động thể chất7. Sự thoái hóa cơ xương như vậy, có thể cản trở các hoạt động hàng ngày và có giá trị tiên đoán về kết cục bất lợi, gia tăng tỷ lệ biến chứng, tử vong và bệnh tật trong các thủ thuật phẫu thuật lớn8. Hơn nữa, cả hai tiêu chí. 2 giảm khối lượng cơ hoặc chức năng cơ đều là những yếu tố nguy cơ gây mất độc lập ở bệnh nhân trên 90 tuổi9.

Trên thực tế lâm sàng, thiếu cơ và suy yếu thường được chẩn đoán muộn bởi nó được coi như một phần của “quá trình lão hóa bình thường” với tốc độ giảm khối lượng và sức mạnh cơ rất chậm. Suy yếu và thiếu cơ đều dẫn đến các kết cục bất lợi ở người cao tuổi như: té ngã, tăng tỷ lệ nhập viện, thậm chí là tử vong, vì vậy việc xác định, chẩn đoán sớm người cao tuổi mắc suy yếu và thiếu cơ là rất cần thiết trong thực hành lâm sàng tại các cơ sở y tế cũng như trong cộng đồng10. Đồng thời cả suy yếu và thiếu cơ là 02 yếu tố có thể phục hồi một phần, có mối quan hệ nhân quả với các tình trạng bệnh lý, dinh dưỡng, và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi11. Điều đó cũng đặt ra một thách thức lớn đối với ngành y tế trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi vì người cao tuổi phải đối mặt với nhiều bệnh mạn tính do suy giảm chức năng của nhiều cơ quan, tổ chức.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành nhằm xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ liên quan đến suy yếu, thiếu cơ ở người cao tuổi12. Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam, các nghiên cứu về suy yếu - thiếu cơ đặc biệt là các nghiên cứu trên quần thể người cao tuổi sống ở cộng đồng được công bố vẫn còn khá ít. Với mong muốn tìm hiểu, xem xét tác động của các yếu tố nhân khẩu học, lối sống và các tình trạng sức khỏe khác nhau đối với sự phát triển của suy yếu và thiếu cơ cũng như tác động của chúng đối với sự xuất hiện các kết quả bất lợi ở người cao tuổi ở cộng đồng, từ đó xác định, chẩn đoán sớm những đối tượng có nguy cơ cao mắc các kết cục bất lợi, giúp điều trị và kiểm soát, phòng ngừa các kết cục bất lợi về sức khỏe ở người cao tuổi nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố liên quan và giá trị tiên lượng kết cục bất lợi của suy yếu – thiếu cơ ở người cao tuổi”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Khảo sát tỷ lệ suy yếu (Frailty), thiếu cơ (Sarcopenia) ở người cao tuổi sống trong cộng đồng.

Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy yếu, thiếu cơ, đồng thời phân tích mối liên quan giữa tình trạng suy yếu, thiếu cơ với các kết cục bất lợi (tử vong, nhập viện, té ngã) ở người cao tuổi. Mục tiêu cụ thể 1. Khảo sát tỷ lệ suy yếu, thiếu cơ ở người cao tuổi sinh sống trên địa bàn Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy yếu, tình trạng thiếu cơ ở người cao tuổi.

Phân tích mối liên quan giữa tình trạng suy yếu, thiếu cơ, sự đồng mắc suy yếu – thiếu cơ ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu với một số kết cục bất lợi về sức khỏe (tử vong, nhập viện, té ngã) ở người cao tuổi sau 6 tháng theo dõi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về người cao tuổi và già hóa dân số tại Việt Nam 1. Định nghĩa người cao tuổi Định nghĩa người cao tuổi có sự khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội cũng như của các nền văn hóa.

Các nhà quản lý xã hội hiện nay dựa vào định nghĩa người cao tuổi để quy định tuổi hưu, nên tùy theo chính sách xã hội mà có những định nghĩa khác nhau về người cao tuổi. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, 60 tuổi được lấy làm điểm cắt để định nghĩa người cao tuổi. Trong khi tại các nước phương Tây, người cao tuổi được định nghĩa là người từ 65 tuổi trở lên13. Tại Việt Nam, người cao tuổi được định nghĩa là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên14.

Già hóa dân số tại Việt Nam Già hóa dân số là hệ quả của ba xu hướng nhân khẩu học - tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng nhanh15. Kết quả phân tích Tổng điều tra dân số năm 2019 cho thấy xu hướng già hóa dân số tiếp tục diễn ra với tốc độ nhanh chóng ở Việt Nam, đòi hỏi phải có những chính sách và chương trình thích ứng với xu hướng nhân khẩu học này13. Trong giai đoạn 2009 - 2019, dân số cao tuổi tăng từ 7,45 triệu lên 11,41 triệu, tương ứng với tăng từ 8,68% lên 11,86% tổng dân số. Dân số cao tuổi tăng thêm chiếm gần 40% tổng dân số tăng thêm.

Cũng trong giai đoạn này, tổng dân số tăng trung bình 1,14%/năm thì dân số cao tuổi tăng tới 4,35%/năm. Xét theo sắp xếp cuộc sống của hộ gia đình, tỷ lệ người cao tuổi sống một mình hoặc sống chỉ với vợ/chồng tăng lên, trong khi các nhóm khác có xu hướng giảm xuống13.000 người 80+ 75-79 70-74 65-69 60-64 55-59 50-54 45-49 Nhóm tuổi 40-44 35-39 30-34 25-29 20-24 15-19 10-14 5-9 0-4 6.000 Người 2019 Nữ 2019 Nam 2009 Nữ 2009 Nam Hình 1. Tháp dân số Việt Nam, 2009 và 2019 “Nguồn: UNFPA Viet Nam, 2021”13 Dự báo dân số tới năm 2069 theo giả định mức sinh trung bình cho thấy, số lượng người cao tuổi sẽ đạt 17,28 triệu người (chiếm 16,5% tổng dân số) vào năm 2029; 22,29 triệu người (chiếm 20,21% tổng dân số) vào năm 2038; 28,61 triệu người (chiếm 24,88% tổng dân số) vào năm 2049 và 31,69 triệu người (chiếm 27,11% tổng dân số) vào năm 20691,13. Già hóa dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổng số dân của thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019 là 8.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất cả nước chiếm tỷ trọng 9,4% dân số cả nước và 50,4% dân số vùng Đông Nam Bộ. So với tổng điều tra dân số năm 2009 thì sau 10 năm dân số của thành phố tăng thêm 1,83 triệu người, tăng 25,3% và chiếm 17,7% số dân tăng thêm của cả nước trong 10 năm (10,36 triệu người)16. Quan sát tháp tuổi các kỳ Tổng điều tra cho thấy dân số ngày càng già hóa, các thanh ở đáy tháp dần thu hẹp và các thanh ở nhóm tuổi trên dần phình to là do mức sinh giảm và tuổi thọ trung bình của thành phố tăng làm thay đổi cấu trúc tuổi của dân số17. Già hóa dân số là hệ quả của hai yếu tố: tỷ lệ sinh giảm và duy trì ở mức thấp và tuổi thọ trung bình tăng duy trì ở mức cao và mức sinh giảm duy trì ở mức thấp, hiện tại thành phố vẫn đang tiếp tục được “dư lợi dân số” (chủ yếu do lực lượng lao động nhập cư) nên già hóa cần quan tâm sớm để trong tương lai hạn chế các tác động đến đời sống xã hội như thị trường lao động, chính sách an sinh xã hội, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

Qua các kỳ Tổng điều tra cho thấy chỉ số già hóa dân số tăng lần lượt là 1999: 31,3%, 2009: 34,5% và 2019: 49,4%, đặc biệt là dân số nữ “già hóa” nhanh hơn dân số nam. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý đến hộ quá tuổi lao động sống một mình của thành phố cũng ở mức cao chiếm 18,9%, những hộ này dễ bị tổn thương và cần có chính sách hỗ trợ phù hợp trong tương lai13. Nói tóm lại, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là một trong những tỉnh/thành có tỷ suất nhập cư cao của cả nước và cũng là tỉnh/thành có cơ cấu dân số vàng, điều này mang lại cơ hội trong việc tận dụng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, nhưng nếu không tận dụng được lại là áp lực và thách thức cho các vấn đề an sinh xã hội như việc làm, giáo dục, y tế, an sinh xã hội. Bên cạnh đó, quá trình già hóa dân số cũng đang diễn ra, hiện tại thành phố có tỷ trọng người trên 65 tuổi là 5,6% gần tới mức 7- 10% tổng số dân, thành phố cũng cần chuẩn bị trước các điều kiện về an sinh xã hội.

7 cho người cao tuổi thông qua hệ thống bảo trợ xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế16.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ