Chương 1: Giới thiệu đề tài Nội dung chương này trình bày những điểm cơ bản của đề tài bao gồm lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu; đồng thời tóm lược về phương pháp và số liệu nghiên cứu. Chương 2: Trình bày các nội dung tổng quan lý thuyết và các tài liệu liên quan đến nghiên cứu như khái niệm, định nghĩa về dịch vụ, sự hài lòng; các thành phần của chất lượng dịch vụ và sự hài lòng; lý thuyết liên quan; lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài; rút ra mô hình nghiên cứu cho đề tài. Chương 3: Trình bày phương pháp thực hiện nghiên cứu Chương này nêu rõ việc xây dựng thang đo, các biến quan sát trong thang đo; cách thức xây dựng bảng câu hỏi khảo sát; qui trình phân tích; cách thức thu thập và phân tích số liệu. Chương 4: trình bày kết quả nghiên cứu mô tả, phân tích kết quả đánh giá cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng.
Phân tích sự khác biệt về đánh giá cảm nhận dựa theo các đặc điểm khác nhau của khách hàng. Chương 5: Kết luận và đề xuất các hàm ý quản trị Từ những kết quả phân tích ở chương 4, chương 5 sẽ tóm lược kết quả nghiên cứu chính, đưa ra kết luận và gợi ý những hàm ý quản trị, biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày các nội dung tổng quan lý thuyết và các tài liệu liên quan đến nghiên cứu.
Phần thứ nhất nêu những khái niệm, định nghĩa về dịch vụ, sự hài lòng; các thành phần của chất lượng dịch vụ và sự hài lòng. Phần thứ hai trình bày các lý thuyết liên quan. Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài được nêu trong phần thứ 3. Sau cùng, là phần mô hình nghiên cứu của đề tài.
Tầm quan trọng về kinh tế của giao thông vận tải. Vai trò chính yếu của giao thông vận tải là cung cấp khả năng sự tiếp cận giữa những vùng, vị trí riêng biệt về không gian với nhau cho các hộ gia đình và các hoạt động kinh tế, cho cả sự lưu thông của cá nhân và cộng đồng. Đối với hoạt động kinh tế - kinh doanh, giao thông vận tải cung cấp cách thức để nối kết giữa các hoạt động kinh tế với nguồn cung cấp nguyên vật liệu, giữa các hoạt động kinh tế với nhau, và giữa các hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Đối với khu vực hộ gia đình, giao thông vận tải mang lại khả năng tiếp cận của mọi người đến nơi làm việc, học tập, mua sắm, giải trí, các tiện ích sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe.
Bản thân giao thông vận tải được xem là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia, mức độ đầu tư hạ tầng giao thông cùng với chi phí cho các hoạt động, vận hành hệ thống có thể có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Ví dụ, khi giá cả nhiên liệu phục vụ giao thông vận tải tăng sẽ làm tăng chi tiêu của hộ gia đình cho các hàng hóa và dịch vụ khác. Đặc biệt giao thông tại các vùng đô thị cho thấy có những tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân trên các khía cạnh xã hội, văn hóa, kinh tế và môi trường. Xã hội sẽ có nhiều lợi ích từ hệ thống giao thông vận tải nếu mọi người đếu có cơ hội tiếp cận như nhau, đáp ứng được những nhu cầu khác nhau, giúp mọi người không bị gián đoạn trong những công việc hàng ngày.
Giao thông vận tải đóng góp vào nền kinh tế thông qua tạo điều kiện di chuyển của các hoạt động trong nền kinh tế, sử dụng tốt hơn các tài nguyên năng lượng và không gian, giảm bớt thời gian vận chuyển bằng cách giảm sự ùn tắt. Giao thông vận tải sẽ có lợi ích cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 môi trường nếu có sự an toàn trong giao thông, giảm phát thải khí vào môi trường, giảm mức tiêu dùng năng lượng trong giao thông. Khi chi phí cho giao thông vận tải thấp và khả năng tiếp cận được nâng cao do những dịch vụ và nối kết giao thông tốt hơn, thì các thị trường sẽ được mở rộng cho những hoạt động kinh tế có sử dụng giao thông của các cá nhân, cải thiện được sự tiếp cận của họ với các nhà cung ứng vật tư, yếu tố đầu vào. Sự gia tăng về tiếp cận và nối kết tạo ra thêm nhiều cơ hội để mua bán, cạnh tranh và chuyên môn hóa, mà điều này sẽ đưa đến những thành quả về năng suất trong dài hạn.
Nhu cầu về giao thông vận tải. Nhu cầu giao thông vận tải của cá nhân, hộ gia đình về cơ bản là một hàm số về sự mong muốn của họ để tiếp cận đến nơi làm việc, các cơ sở giáo dục, y tế, cửa hàng, những tiện ích xã hội, cộng đồng, những nơi giải trí… Những mong muốn giao thông này được thực hiện đến mức độ nào sẽ tùy thuộc vào thời gian và chi phí của những chuyến đi. Thời gian và chi phí cho mỗi chuyến đi sẽ tùy thuộc vào: a) sự cung ứng những dịch vụ giao thông thích hợp: tốc độ, chất lượng, tiện ích, tần suất phục vụ, độ tin cậy, mức độ đông người; b) Giá cả của các dịch vụ giao thông và dịch vụ đi kèm; c) nhận thức về bất kỳ giá trị xã hội và môi trường nào có liên quan đến chuyến đi và dịch vụ (an toàn và an ninh trong chuyến đi, những ảnh hưởng xấu đến môi trường). Theo Bộ Giao thông NewZealand (2014), những quyết định về giao thông là không đơn giản vì có nhiều yếu tố liên quan và cả sự lựa chọn trong ngắn hạn và dài hạn cần phải được cân nhắc.
Ví dụ, một công ty muốn sản xuất và bán sản phẩm của mình trên thị trường, công ty cần phải có những quyết định về: a) nguồn yếu tố đầu vào được vận chuyển đến nhà máy sản xuất như thế nào; b) những thị trường nào là thị trường chính để tiêu thụ sản phẩm, làm sao để vận chuyển các sản phẩm. Trong các quyết định trung hạn, công ty sẽ phải quyết định là họ có nên có hệ thống vận chuyển riêng của mình không, nếu vậy thì phải làm thế nào, hoặc thuê vận chuyển từ các công ty khác. Trước mắt, công ty cần có những lựa chọn về cách thức vận chuyển, thời gian, chất lượng và giá cả vận chuyển yếu tố đầu vào và hàng hóa của công ty. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Khái niệm dịch vụ.
Theo lý thuyết kinh tế học thì dịch vụ là một hoạt động kinh tế diễn ra khi có sự trao đổi giá trị phi vật chất, vô hình. Hoạt động này không thể tích trữ, và không đưa đến quyền sở hữu trừ khi có sự trao đổi giữa người mua và người bán, và được tiêu dùng tại thời điểm cung cấp. Dịch vụ là một trong hai thành phần chính trao đổi trong nền kinh tế: hàng hóa và dịch vụ. Nghiên cứu về các khái niệm trong kinh tế, kinh doanh cho thấy các nhà nghiên cứu kinh tế, và marketing đã đưa ra rất nhiều khái niệm về dịch vụ.
Các khái niệm hoặc định nghĩa có thể phân theo 4 bốn nhóm dựa theo cách tiếp cận: nhóm dựa vào các hành động (acts based), nhóm dựa vào quyền sở hữu (ownership based), nhóm dựa theo đặc tính (characteristics bsed), và nhóm phối hợp.com thì dịch vụ là một điều gì đó mà xã hội cần, như vận chuyển, những phương tiện thông tin truyền thông, bệnh viện, cung cấp năng lượng được cung cấp bởi nhà nước hoặc một tổ chức chính thức theo những cách thức có tổ chức và kế hoạch. Định nghĩa dịch vụ theo Quinn và Gagnon (1986) là những hoạt động kinh tế mà sản phẩm chủ yếu của nó không phải là một vật chất hay cấu trúc hữu hình. Gronroos (2007) định nghĩa dịch vụ là một tiến trình bao gồm một chuỗi các hành động nhiều hay ít mang tính chất vô hình, thường được diễn ra trong sự tương tác giữa khách hàng và người cung cấp, và những hành động đó được xem là giải pháp cho các nhu cầu của khách hàng. Định nghĩa này quan tâm đến mục tiêu của việc trao đổi.
Khái niệm dịch vụ dựa theo những định nghĩa về quyền sở hữu và hành động do Kotler và cộng sự (2009) đưa ra. Theo các tác giả này thì dịch vụ có thể được hiểu là bất kỳ một hành động hoặc việc thực hiện nào mà một cá nhân, tổ chức cung cấp cho người khác mà những hành động đó về cơ bản là vô hình và không đưa đến quyền sở hữu của bất kỳ vật chất nào. Theo các định nghĩa này có thể thấy được một điểm chung là dịch vụ là một hoạt động hoặc một chuỗi các hoạt động có mang tính chất không thể nắm bắt được (vô hình), liên quan đến sự tương tác, trao đổi giữa người bán và người cung cấp, và không mang hình thức trao đổi quyền sở hữu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Zeithaml và Bitner (2000) thì dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Các đặc điểm của dịch vụ. Các định nghĩa tiếp cận theo đặc tính của sự vật đã đưa ra những điểm đặc trưng riêng của dịch vụ khác với sản phẩm là: phi vật thể/vô hình (non-physical), không đồng nhất (heterogenity), không thể tách rời, và khả năng bị hỏng, không thể tồn trữ (perishability). Nói cách khác thì dịch vụ là những hàng hóa vô hình được sản xuất và tiêu thụ cùng một thời điểm, với sự có mặt đồng thời của người mua/khách hàng và người sản xuất/người bán/người cung cấp. Sự hiện diện của yếu tố con người trong tiến trình cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn đến xác suất rủi ro cho cả người cung cấp và khách hàng.
Những rủi ro này là do những hành vi không thể nắm bắt được, không dễ dàng kiềm soát hay quản lý (Bowen, 1986). Theo Zeithaml& Britner (2000), dịch vụ là những hành động, tiến trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.