phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn g m ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Sử dụng hoạt động trò chơi trong dạy học Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 4 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Từ thế kỷ XIX những năm 40, sự thu hút của trò chơi dân gian đối với trẻ em lứa tuổi mẫu giáo đã đƣợc đánh giá cao bởi một số nhà khoa học giáo dục Nga nhƣ: P.Pokrovxki đã đề cập tới ngu n gốc cùng giá trị và tính hấp dẫn đặc biệt lạ thƣờng của các trò chơi dân gian này trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga”.20] Song song với các trò chơi học tập đƣợc lƣu truyền trong dân gian, một số nhà giáo dục có tên tuổi đƣơng thời cũng đã xây dựng nên một kho tàng các trò chơi dạy học khác.
Điển hình là I.Komenxki (1592 - 1670), nhà sƣ phạm nổi tiếng ngƣời Tiệp Khắc, ông đƣợc coi là đại diện cho khuynh hƣớng phát triển toàn diện ở trẻ em thông qua sử dụng trò chơi làm phƣơng tiện dạy học. Ông cho rằng bản chất và khuynh hƣớng phát triển ở trẻ em phù hợp với hoạt động trò chơi và đây là hoạt động cần thiết đƣợc phát triển ở lứa tuổi này. Thông qua hoạt động trò chơi, một hoạt động trí tuệ nghiêm túc, trẻ em có cơ hội đƣợc phát triển toàn diện, đ ng thời làm phong phú thêm những hiểu biết của bản thân, mở rộng ngu n tri thức có đƣợc. Với quan điểm trò chơi là niềm vui sƣớng của tuổi thơ, là phƣơng tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.Komenxki đã khuyên ngƣời lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hƣớng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi.Phroebel (1782 - 1852), một nhà sƣ phạm ngƣời Đức đã khởi xƣớng và đƣa ra ý tƣởng kết hợp trò chơi trong dạy học cho trẻ em.
Ông cho rằng cái khởi đầu do thƣợng đế sinh ra t n tại ở khắp mọi nơi, trẻ có thể nhận thức đƣợc điều này thông qua trò chơi, đ ng thời nhận thức đƣợc những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình. Theo quan điểm của ông cơ sở lý luận sƣ phạm duy tâm thần bí đƣợc phản ánh qua các trò chơi trong dạy 5 học trẻ nhỏ. Vì thế ông cho rằng trẻ không thể rèn tính sáng tạo và tính tích cực thông qua các hoạt động trò chơi dạy học.Bazedov cho rằng, trò chơi là phƣơng tiện dạy học. Theo ông, nhu cầu của ngƣời học sẽ đƣợc đáp ứng phù hợp với đặc điểm của ngƣời học nếu giáo viên kết hợp biện pháp chơi trên tiết học hoặc tiến hành tiết học dƣới hình thức chơi.
Từ đó hiệu quả tiết học sẽ cao hơn. Hệ thống trò chơi học tập dùng lời đã đƣợc ông đƣa ra. Theo ông, những trò chơi này mang lại cho ngƣời học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng.20 – 27] Vào những năm 30 – 40 – 60 của thế kỷ XX, một số tác giả nhƣ R.Udalsova đã đề cập đến vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trên “tiết học” trong công trình nghiên cứu của mình.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi. Bà coi trò chơi học tập nhƣ là hình thức dạy học, giúp ngƣời học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tƣởng đó.
Bà cũng đã chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dƣới hình thức trò chơi học tập đ ng thời soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đƣa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng.28] Bên cạnh đó, tính tích cực cũng đƣợc một số nhà khoa học nhƣ B.Machiuskin (Liênxô), Okon (Balan), Skinner, Bruner (Mỹ), Xavier, Roegiers (Pháp) nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau. Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của ngƣời học trong mối quan hệ giữa nhận thức và tình cảm, ý chí (A.Okon) hƣớng nghiên cứu này đã bổ trợ rất nhiều cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những con đƣờng và điều kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của ngƣời học. Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức của ngƣời lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lƣu ý tới vai trò chủ động và chủ thể trong quá trình nhận thức (B.Anstova, Xavier Roegiers, Jean-Marc Denomme, Madedine Roy) các tác giả này coi tính tích cực nhận 6 thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tƣợng nhận thức thông qua việc huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức. Ở trong nước Ở Việt Nam, có một số tác giả nhƣ Vũ Minh H ng [7.47 – 56], Lê Bích Ngọc [10.99 – 142], Nguyễn Thế Truyền [14.70 – 78], Trƣơng Thị Xuân Huệ [8.55 – 62] đã nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng trò chơi dạy học dƣới các góc độ và các bộ môn khác nhau.
Những hệ thống trò chơi và trò chơi học tập đƣợc các tác giả đề cập đến chủ yếu nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số môn học nhƣ: Hình thành biểu tƣợng toán sơ đẳng, làm quen với môi trƣờng xung quanh, rèn các giác quan chú ý, ghi nhớ, phát triển tƣ duy và ngôn ngữ cho trẻ. Các tác giả đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa phát triển của trò chơi học tập, không chỉ phát triển ở các giác quan mà phát triển các chức năng tâm lý chung của ngƣời học. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này cũng chƣa đi sâu nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học dành cho quá trình nhận thức của ngƣời học. Trong tác phẩm “trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [16.tr 57 – 71] đã đề cập đến trò chơi trí tuệ.
Loại trò chơi này có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ. Trong tác phẩm này, bà đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em.tr 54 – 69] đã thiết kế một hệ thống trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo lớn. Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của ngƣời học. Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộ môn khác nhau, chẳng hạn: Trƣơng Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tƣợng toán ban đầu cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi). Tác giả đã nêu ra 7 một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập. Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ.10 – 11] Tóm lại, điểm qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy từ trƣớc đến nay tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học. Song chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn toán dành cho đối tƣợng học sinh trung học cơ sở, đặc biệt là học sinh lớp 6.
Phƣơng pháp dạy học Theo tác giả Nguyễn Bá Kim [9], “phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học”. Dựa trên mỗi tiêu chí khác nhau, ta có những cách phân loại phƣơng pháp dạy học khác nhau. Tùy vào nội dung bài học và mục tiêu bài giảng, giáo viên có thể lựa chọn phƣơng pháp phù hợp. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh 1.
Khái niệm hoạt động Theo giáo trình Tâm lý đại cƣơng của tác giả Nguyễn Xuân Thức [13]: Hoạt động là quá trình tác động qua lại, thực hiện các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên, xã hội xung quanh. Quá trình này tạo ra sản phẩm hoạt động về cả phía thế giới và sản phẩm về phía con ngƣời. Trong quá trình xuất tâm (đối tƣợng hoá), chủ thể hoạt động là con ngƣời, con ngƣời tác động tới thế giới (sự vật) xung quanh để tạo ra các sản phẩm. Khi đó, chủ thể của hoạt động là con ngƣời đã chuyển những đặc điểm tâm lý của mình vào trong sản phẩm.
Quá trình chủ thể hoá (nhập tâm) là quá trình mà những điều chứa đựng trong thế giới bên ngoài đƣợc tác động vào bản thân con ngƣời. Những hiểu biết về thế giới vạn vật xung quanh đƣợc con ngƣời lĩnh hội, thêm vào vốn hiểu biết của mình. 8 Hai quá trình này diễn ra đ ng thời, song song, thống nhất và bổ sung cho nhau. Hoạt động giáo dục Để truyền tải những nội dung giáo dục tới ngƣời học, các hoạt động giáo dục đƣợc thực hiện bằng những cách thức phù hợp với mục tiêu giáo dục.
Đây là các hoạt động có chủ đích, có kế hoạch và định hƣớng rõ ràng từ những nhà giáo dục. Hiện nay, kế hoạch giáo dục trong chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện hành của Việt Nam bao g m nội dung học tập các môn học và các hoạt động giáo dục đƣợc tổ chức ngoài giờ dạy học các môn học (nhƣ hoạt động tập thể, hoạt động hƣớng nghiệp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đƣợc tổ chức theo chủ đề giáo dục). Hoạt động học tập 1. Khái niệm học Theo từ điển Tiếng Việt, “Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại” [11.
Học là quá trình tiếp thu, lĩnh hội các tri thức khoa học mới hoặc bổ sung, trau d i các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị đã có. “Học” là quá trình nhận thức, tiếp thu hàng ngày, học qua lao động, vui chơi, qua kinh nghiệm. Thông qua những kinh nghiệm thực tế thu đƣợc qua các hoạt động mỗi ngày, việc học mang đến cho ngƣời học những kiến thức mới, những tri thức tiền khoa học. Từ đó ngƣời học đƣợc hình thành những năng lực thực tiễn.
Học tập có thể tùy theo hoàn cảnh với nhiều hình thức học tập khác nhau. Việc học không phải là công việc thực hiện trong một sớm một chiều, mà đó là cả một quá trình, từ những điều đã biết để tiếp tục phát triển, tìm hiểu những tri thức mới.