Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,71 km2 với quy mô dân số đạt 1.025.715 người vào năm 2009. Lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm tới 61,9% dân số, tạo ra tiềm năng nhân lực dồi dào cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong giai đoạn 2006-2009, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương bình quân đạt mức ấn tượng 15,1%/năm. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vượt bậc, nâng tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 23,77% năm 1997 lên 51,01% năm 2007, đồng thời giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 15,24% năm 2005 xuống còn 9,6% năm 2007.

Tuy nhiên, thực tiễn phân bổ và khai thác nguồn lực con người đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Khoảng 76,5% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn chịu áp lực thiếu việc làm khi đất canh tác bị thu hẹp để phục vụ 15 khu công nghiệp tập trung với quy mô 7.525 ha. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh mới đạt khoảng 25%, gây nên sự mất cân đối cung cầu gay gắt giữa nhu cầu tuyển dụng kỹ thuật cao và lực lượng lao động phổ thông dồi dào.

Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu làm rõ thực trạng, cơ chế thu hút, phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong khung thời gian khảo sát từ năm 2000 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc tối ưu hóa 592.246 lao động xã hội, giảm thiểu 20% quỹ thời gian lao động lãng phí tại nông thôn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững theo chiều sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về tái sản xuất sức lao động và vai trò của con người với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp hàng đầu trong nền kinh tế. Song song với đó, lý thuyết Vốn con người của Gary Becker và khung đánh giá của Ngân hàng Thế giới được sử dụng để lượng hóa giá trị đầu tư cho giáo dục đào tạo. Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, tỷ suất hoàn vốn xã hội khi đầu tư cho giáo dục tiểu học đạt 24%, trung học đạt 17% và đại học đạt 14%, cao hơn đáng kể so với mức sinh lời 13% của đầu tư vào tư bản vật chất thuần túy.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh năm khái niệm cốt lõi: Nguồn nhân lực, Sử dụng nguồn nhân lực, Toàn dụng lao động, Chuyển dịch cơ cấu lao động và Năng suất lao động xã hội. Việc sử dụng nguồn nhân lực không dừng lại ở việc tạo việc làm đơn thuần mà là quá trình khơi dậy, phân bổ hợp lý thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động vào các ngành kinh tế theo hướng tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng dựa trên hai nguồn dữ liệu chính. Dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, Tổng cục Thống kê và các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2000-2010. Dữ liệu sơ cấp được khảo sát với cỡ mẫu gồm 500 phiếu người lao động và 120 doanh nghiệp hoạt động tại 10 khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho ba khu vực kinh tế: khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân bổ trên 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian và so sánh tỷ trọng cơ cấu. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích này là để nhận diện chính xác mối tương quan giữa tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP và mức độ dịch chuyển cơ cấu việc làm, từ đó đo lường mức độ lãng phí nguồn lực lao động trong từng giai đoạn phát triển.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực nhưng tốc độ chưa bắt kịp sự chuyển đổi của cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh từ 63,3% năm 2005 xuống còn 42,8% năm 2010. Ngược lại, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 22,3% lên 33,0%, và khu vực dịch vụ tăng từ 14,5% lên 24,2% trong cùng giai đoạn. Dù vậy, mức giảm của lao động nông nghiệp vẫn chậm hơn nhiều so với mức giảm tỷ trọng GDP nông nghiệp xuống 18,65% năm 2007.

Thứ hai, khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giữ vai trò chủ lực trong việc tạo việc làm mới. Năm 2009, trong tổng số 592.246 người đang làm việc, khu vực kinh tế ngoài nhà nước thu hút 531.902 lao động, chiếm tỷ lệ áp đảo 89,81%. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ghi nhận sự bứt phá ngoạn mục khi giải quyết việc làm cho 27.460 lao động năm 2009, tăng hơn 4,4 lần so với con số 6.112 người năm 2005. Ngược lại, khu vực nhà nước chỉ chiếm 5,55% với 32.884 lao động.

Thứ ba, hiệu quả khai thác thời gian lao động nông thôn và chất lượng tay nghề còn nhiều hạn chế. Hệ số sử dụng thời gian lao động ở nông thôn chỉ dao động từ 82,0% năm 2005 lên 83,1% năm 2009, đồng nghĩa với việc gần 20% quỹ thời gian của lao động nông nghiệp chưa được huy động. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị duy trì ở mức 3,74% vào năm 2009 với khoảng 10% lao động thiếu việc làm hoặc có việc làm không ổn định. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt xấp xỉ 25%, tạo nên khoảng trống kỹ năng lớn đối với 44.500 lao động tại các khu công nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ tốc độ đô thị hóa và phát triển công nghiệp diễn ra nhanh chóng, khiến diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp trong khi năng lực chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân còn hạn chế. Các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, toàn tỉnh chỉ có 2 trường cao đẳng nghề và 48 cơ sở dạy nghề quy mô nhỏ, tập trung chủ yếu tại thành phố Bắc Ninh. Điều này dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cơ cấu đào tạo và nhu cầu của thị trường theo kiểu thừa thầy thiếu thợ, tương đồng với các kết luận trong công trình nghiên cứu của Phan Văn Kha và Trần Kim Hải.

Bức tranh biến động nhân lực được minh họa rõ nét qua biểu đồ đường biểu diễn sự thay đổi tỷ trọng lao động ba khu vực kinh tế giai đoạn 2005-2010 song song với bảng ma trận tương quan giữa trình độ chuyên môn kỹ thuật và mức thu nhập bình quân của 200 doanh nghiệp đang vận hành tại các khu công nghiệp tập trung. Những dữ liệu này chỉ ra rằng năng suất lao động xã hội chỉ có thể bứt phá khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 50%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp và nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh cần phối hợp cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 25% lên 45% vào năm 2015 và đạt 60% vào năm 2020. Mục tiêu này được thực hiện thông qua việc hiện đại hóa trang thiết bị cho 48 cơ sở dạy nghề và nâng cấp trường cao đẳng nghề thành trường chất lượng cao.

Thứ hai, thiết lập mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng giữa nhà trường và doanh nghiệp. Ban Quản lý các Khu công nghiệp cần làm đầu mối kết nối gần 200 doanh nghiệp đang hoạt động, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia như Canon và Samsung, trực tiếp tham gia xây dựng giáo trình và cam kết tuyển dụng 44.500 lao động có tay nghề kỹ thuật mỗi năm giai đoạn 2012-2016.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu việc làm nông thôn và tận dụng 20% quỹ thời gian lao động nhàn rỗi. Chính quyền các cấp cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản và khôi phục hơn 300 làng nghề truyền thống như gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, tranh Đông Hồ, gốm Phù Lãng. Giải pháp này giúp giải quyết việc làm tại chỗ cho khoảng 50.000 lao động nông thôn vào mùa nông nhàn trong lộ trình 2012-2015.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế thị trường lao động và chính sách thu hút nhân tài. Tỉnh cần xây dựng sàn giao dịch việc làm hiện đại, số hóa thông tin cung cầu lao động và ban hành chính sách đãi ngộ hấp dẫn về nhà ở, phụ cấp thu hút đối với các chuyên gia, kỹ sư đầu ngành giai đoạn 2013-2020, nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 3,0%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2000-2010 phục vụ việc xây dựng quy hoạch tổng thể nguồn nhân lực và đề án phân bổ lao động cấp tỉnh.

Nhóm thứ hai là Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh và các nhà quản trị nhân sự tại các tập đoàn FDI. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác thực trạng nguồn cung lao động địa phương, từ đó xây dựng kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nội bộ phù hợp cho 44.500 công nhân.

Nhóm thứ ba là ban giám hiệu, chuyên gia đào tạo tại 48 trường cao đẳng, trung cấp và cơ sở dạy nghề trên địa bàn. Nghiên cứu đưa ra định hướng chuyển đổi chương trình giảng dạy bám sát nhu cầu công nghệ cao của 15 khu công nghiệp tập trung.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế, Kinh tế lao động. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa lý luận kinh tế và thực tiễn phát triển vùng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Bắc Ninh cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp? Vì nông nghiệp chỉ đóng góp 18,65% cơ cấu kinh tế năm 2007 nhưng lại gánh tới 42,8% tổng lực lượng lao động vào năm 2010. Năng suất lao động nông nghiệp thấp khiến thu nhập bình quân khó bứt phá. Chuyển dịch lao động sang khu vực công nghiệp có tốc độ tăng trưởng 18,3%/năm là con đường tất yếu để nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.

Thực trạng lãng phí quỹ thời gian lao động tại khu vực nông thôn Bắc Ninh diễn ra như thế nào? Hệ số sử dụng thời gian lao động tại nông thôn mới đạt mức 83,1% vào năm 2009, tức còn gần 20% quỹ thời gian bị lãng phí do tính chất mùa vụ. Dòng người nông nhàn thiếu việc làm ổn định buộc phải di chuyển tự do lên các đô thị lớn làm các công việc thời vụ, tạo nên sự bấp bênh lớn về an sinh xã hội.

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp thế nào vào việc làm tại Bắc Ninh? Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài có tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất, từ 6.112 người năm 2005 lên 27.460 người năm 2009, tức tăng hơn 4,4 lần. Các dự án quy mô lớn từ tập đoàn Canon và Samsung tạo lực kéo mạnh mẽ, thu hút 53% lao động là người địa phương và thúc đẩy đào tạo tác phong công nghiệp.

Nguyên nhân chính khiến tỷ lệ lao động qua đào tạo tại Bắc Ninh chỉ đạt khoảng 25% là gì? Nguyên nhân chủ yếu do mạng lưới 48 cơ sở dạy nghề còn nhỏ lẻ, thiếu thốn trang thiết bị thực hành hiện đại và tập trung không đồng đều. Nhận thức xã hội về học nghề còn hạn chế, tâm lý chuộng bằng cấp đại học khiến công tác phân luồng học sinh sau trung học phổ thông chưa đạt hiệu quả mong muốn.

Giải pháp đột phá nào giúp giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực kỹ thuật cao giai đoạn 2015-2020? Giải pháp then chốt là cơ chế hợp tác ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp khu công nghiệp. Doanh nghiệp tham gia đầu tư thiết bị xưởng thực hành và đặt hàng chỉ tiêu đào tạo, cam kết tiếp nhận học viên tốt nghiệp, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức 60% vào năm 2020.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế chính trị về phát triển nguồn vốn con người và phân tích thực trạng sử dụng nguồn nhân lực tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thành tựu chuyển dịch cơ cấu lao động với tỷ trọng công nghiệp tăng lên 33,0% và lao động nông nghiệp giảm xuống còn 42,8% năm 2010.
  • Tác phẩm nhận diện sâu sắc những hạn chế nội tại, đặc biệt là tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp ở mức 25% và sự lãng phí 20% quỹ thời gian lao động nông thôn.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất đồng bộ từ đổi mới đào tạo nghề, gắn kết 200 doanh nghiệp khu công nghiệp đến phát triển 300 làng nghề truyền thống.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn xác đáng, hỗ trợ chính quyền tỉnh triển khai hiệu quả đề án phát triển nhân lực trong lộ trình 2015-2020 nhằm đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp văn minh.

Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn thạc sĩ tại các thư viện chuyên ngành kinh tế để khai thác chi tiết hệ thống bảng biểu và mô hình phân tích định lượng chuyên sâu.