phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương, 7 tiết: 4 Chƣơng 1. Nguồn nhân lực và xu hướng chủ yếu của sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế. Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế ở Bắc Ninh. Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của Bắc Ninh trong phát triển kinh tế giai đoạn tới.
5 Chƣơng 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ XU HƢỚNG CHỦ YẾU CỦA SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Nguồn nhân lực và vấn đề sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế 1. Các quan niệm về nguồn nhân lực NNL là khái niệm đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm về NNL dưới những góc độ khác nhau: Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế nhân tố con người được đề cập với tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất hàng hoá, dịch vụ.
Ở đây, con người được xem xét từ góc độ những lực lượng sản xuất cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp đầy đủ, kịp thời lực lượng lao động theo yêu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong lý luận về vốn người, nhân tố con người được xem xét trước hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển KT - XH. Ngoài ra, lý luận về vốn còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực cho sự phát triển của nó.
Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách là sự “tư bản hoá các phúc lợi” tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó. Cách tiếp cận này đang được áp dụng phổ biến ở hầu khắp các nước hiện nay. Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…) mà mỗi cá nhân sở hữu. Ở đây NNL được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, vốn tài nguyên thiên nhiên… Đầu tư cho 6 con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững.
Theo cách tính của WB thì đầu tư cho giáo dục tiểu học tỷ lệ thu hồi vốn là 24% so với đầu tư, cho trung học là 17%, cho cao đẳng và đại học là 14% trong khi đó đầu tư cho các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồi vốn chỉ đạt 13%. Theo quan niệm của Liên Hiệp Quốc: NNL là tất cả những kiến thức, các kỹ năng, năng lực và tính sáng tạo có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Đây được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng của một quốc gia. Theo UNDP, NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng, trí năng) của con người huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực - nội lực đó của con người cũng chính là nội lực xã hội của một quốc gia.
Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, với số dân đông, NNL dồi dào đang trở thành một trong những nguồn lực quan trọng nhất và nếu khai thác nguồn nội lực đó một cách hiệu quả sẽ tạo ra một động lực to lớn cho sự phát triển KT- XH của Việt Nam. Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam: NNL được hiểu là dân số và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tụê và sức khoẻ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [27, tr. Như vậy NNL được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng: - Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và quy mô độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam hiện nay, Luật Lao động quy định độ tuổi lao động đối với nam từ 15 - 60 tuổi, đối với nữ từ 15 - 55 tuổi.
Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt tới quá trình phát triển. Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế, nếu thiếu thì không có đủ lực lượng cho quá trình phát triển kinh tế đất nước. 7 - Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, động cơ, thái độ, ý thức văn hoá, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của người công dân đó là yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Trong 3 mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển, trí lực là phương thức để truyền tải kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí lực vào thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL bởi có nó con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội.Mác đã nói: “Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ” [34, tr. Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Ngân trong luận án tiến sĩ: “Nâng cao chất lượng NNL tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam” thì NNL được quan niệm là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng cho quá trình sản xuất xã hội hay nói cách khác: NNL là tổng thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao động của xã hội và được họ đang và sẽ đem ra vận dụng để sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng cho xã hội [28, tr.
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với các yếu tố hợp thành: sức lực và trí lực, số lượng cùng các đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc. Ở đây con người được xem xét với tư cách là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, một nguồn lực chủ yếu để phát triển KT - XH. Nếu coi NNL là toàn bộ tiềm năng người nói chung, những tiềm năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển KT - XH thì việc sử dụng NNL chính là khơi dậy và phát huy tất cả những tiềm năng đó. Quá trình này bao gồm nhiều vấn đề như tạo việc làm, sử dụng lực lượng lao động, phát huy 8 tiềm năng trí tuệ và yếu tố tinh thần dân tộc, tạo ra những kích thích và động cơ lao động.
Trong đó giải quyết việc làm và sử dụng nguồn lao động chỉ là một nội dung của sử dụng NNL. Sự cần thiết khách quan phải sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố tổng hợp lại thành: sức lực, trí tuệ, khối lượng cùng đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ, phong cách làm việc. Đó là sức lao động, như Mác nói: khả năng mà con người có thể thông qua lao động để biến thành hiện thực từ đó có thể đóng góp vào sự phát triển KT - XH. Tuy nhiên, khi nói NNL tức là nói sức lao động do vậy nó còn ở trạng thái khả năng, ở trạng thái tĩnh nó phải chuyển sang trạng thái động tức là phải đem phân bố, sử dụng nó một cách hiệu quả, phải làm thế nào để NNL dưới dạng khả năng đó trở thành hiện thực, thành vốn nhân lực.
Sử dụng NNL tức là tiêu dùng sức lao động của con người trong quá trình lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của con người trong xã hội. Quá trình lao động sản xuất đó là quá trình kết hợp sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất nên việc khai thác, phát huy NNL không thể tách rời việc tổ chức nền sản xuất cùng những cách thức của sự phát triển KT - XH. Bởi vậy, sử dụng NNL được hiểu là việc khơi dậy và phát huy tất cả những khả năng của con người thành hiện thực, biến sức lao động thành lao động trong quá trình phát triển KT - XH. Quá trình sử dụng NNL luôn gắn kết với sản xuất nên kết quả của nó phụ thuộc vào sự đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý sản xuất, những cải tiến về công nghệ và phụ thuộc rất lớn vào việc hoàn thiện giáo dục đào tạo (đặc biệt là đào tạo nghề).
9 Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta việc khai thác, sử dụng NNL có thể được xem xét ở các khía cạnh sau: Một là, NNL được biểu hiện ra là nguồn lao động nó bao gồm toàn bộ những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối tiếp, vì vậy sử dụng NNL trước hết là sử dụng lực lượng lao động sản xuất. Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất NNL hiện có là yêu cầu cơ bản và chủ yếu của sử dụng NNL. Hai là, con người khi tham gia vào các quá trình phát triển KT - XH không những chỉ sử dụng lao động chân tay mà còn phải sử dụng cả lao động trí óc ngày càng nhiều khi xã hội ngày càng phát triển. Ngày nay thế giới đang dần bước vào giai đoạn phát triển kinh tế tri thức thì vai trò của lao động trí tuệ của con người thể hiện ngày càng rõ nét.
Ăngghen: khoa học do lao động trí tuệ của con người sáng tạo ra sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tri thức khoa học đang thấm sâu vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất và trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định sự phát triển.