Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH ĐỒNG NAI 1. Những vấn đề chung về sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 1. Nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội Quan niệm về nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực Trước đây người ta đã thấy được vai trò của yếu tố con người (nguồn lực con người, nguồn nhân lực) nhưng nhìn nhận nó chỉ đơn thuần là phương tiện, là một nguồn lực cho phát triển như mọi nguồn lực vật chất khác. Ngày nay, sự nhận thức trên không còn phù hợp, con người - NNL, không chỉ là động lực chủ yếu mà còn là thước đo, là mục tiêu của sự phát triển.
Chính vì lẽ đó, NNL hay nguồn lực con người trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học (khoa học tự nhiên, y học, khoa học xã hội. NNL là khái niệm đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm về NNL dưới những góc độ khác nhau: Có nhiều ý kiến cho rằng: NNL là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập cao trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, NNL là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai.
Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của NNL. 11 Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: Dù xem xét trên bình diện quốc gia hay địa phương, NNL được xác định là “tổng thể các nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân”. Theo tác giả Lê Thị Bích Hạnh, NNL là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quá trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, vùng, quốc gia. Tính thống nhất đó, được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển.
Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam trình bày trong chương trình cấp Nhà nước KX-07, NNL được hiểu là “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc”. Như vậy, NNL đựơc biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng: Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH. Số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội nói chung.
Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượng lao động cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hóa lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của người công dân đó là yêu nước, yêu lao động (có ý thức trách nhiệm với 12 cuộc sống của chính mình và cộng đồng). Trong ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn, hình thành và phát triển kỹ năng lao động. Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hóa của trí lực thành thực tiễn.
Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL, bởi con người có năng lực, có trí tuệ mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội. Tổng quan một số quan niệm về NNL, tác giả luận văn cho rằng, NNL có thể tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau, tùy theo mục đích, phạm vi nghiên cứu. Trong giới hạn một luận văn thạc sĩ kinh tế, chúng tôi cho rằng: Theo nghĩa chung nhất, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là vốn người. Gọi NNL là vốn tức là coi con người như một thứ tài nguyên đặc biệt, một thứ vốn quý giá nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực.
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực về con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực, có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển KT - XH, nhờ nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là lực lượng lao động xã hội. Đó là một bộ phận của dân số đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân hoặc trong một ngành, ở một vùng, một địa phương. bao gồm những người trong độ tuổi lao động theo quy định của từng quốc gia.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn tiếp cận NNL theo nghĩa hẹp, đó là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quá trình lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực; tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một ngành kinh tế trong thể thống 13 nhất hữu cơ giữa năng lực cá nhân và tính chất xã hội của con người, nhóm người, tổ chức, địa phương, ngành đó. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội Sử dụng NNL là việc phân bổ, quản lý khai thác lực lượng lao động ở các vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế. Sử dụng NNL có hiệu quả cao nhất chính là huy động, khai thác tối đa nguồn lực con người (lực lượng lao động) phù hợp với điều kiện của nền kinh tế cũng như của từng địa phương, đơn vị kinh tế.
để người lao động có thể đảm nhận và làm tốt nhất công việc được giao góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ KT - XH. Hiện nay kinh tế đất nước đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, vì vậy việc sử dụng NNL cho phát triển KT - XH nói chung, ở tỉnh Đồng Nai nói riêng, không thể không vận dụng các quy luật của thị trường trong giải quyết các mối quan hệ về lao động (quy luật cung cầu, cạnh tranh, tiết kiệm và hiệu quả. Cơ sở lý luận cho việc nhận thức cần và phải sử dụng tối ưu nguồn lực con người trong phát triển KT - XH chính là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người trong hoạt động thực tiễn. Nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Ăngghen cho rằng mục đích của sản xuất tư bản là giá trị thặng dư, là lợi nhuận, nhưng đó là nhìn chung và xét đến cùng.
Để có giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản phải bán được hàng hóa, phải đứng vững được trong cơ chế thị trường. Điều đó cũng có nghĩa là từng nhà tư bản phải tìm mọi cách ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế và phương thức quản lý kinh tế để khai thác tối đa nguồn lực con người cho khát vọng làm giàu của nhà tư bản. Trên thực tế, giai cấp tư sản 14 thông qua nhà nước của họ đã rất thành công trong việc khai thác nguồn lực con người trong các hoạt động kinh tế xã hội. Trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế của nước Nga giai đoạn 1918 - 1924, VI.
Lê-nin rất quan tâm đến vai trò làm chủ về kinh tế của người lao động và tổ chức các phong trào thi đua. Trong “Những nhiệm v ụ trước mắt của chính quyền Xô-viết”, “Sáng kiến vĩ đại”. Lê-nin đã nhận thấy sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng lao động một khi họ được làm chủ những công xưởng, hầm mỏ. và được tổ chức quản lý một cách khoa học.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về người lao động và sử dụng người lao động trong hoạt động KT - XH (cách dùng người.) cũng đã để lại nhiều điều cần được nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn. Trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), và chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1969), Người thường động viên mọi tầng lớp nhân dân (trước hết là nông dân, công nhân, trí thức) hăng hái thi đua lao động sản xuất với tính thần “nhà nông cũng là chiến sĩ”, “mỗi người làm việc bằng hai”, “tay cày tay súng, tay búa tay súng”. Vì vậy, chúng ta đã huy động tối đa sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sử dụng NNL theo quan điểm của các nhà kinh tế học (khoa học quản lý kinh tế, quản trị nhân lực) là nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu của các ngành khoa học kỹ thuật (cơ giới hóa, tự động hóa) các ngành sinh học, tâm lý học, đạo đức học, nhân chủng học.
nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng lao động sống, tạo nhiều giá trị mới (giá trị gia tăng) trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ và cơ chế thị trường, quản lý và sử dụng NNL ngày nay là một ngành khoa học giàu tính nghệ thuật, đồng thời cũng là một môn nghệ thuật mang đậm tính khoa học.