Tổng quan luận án

Đề tài Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phan Thị Kim (Thích Đàm Kiên), thuộc chuyên ngành Tôn giáo học (Mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Hữu Vui và PGS. Trần Thị Kim Oanh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2016).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng. Các tôn giáo ngoại nhập khi du nhập vào Việt Nam đều trải qua quá trình thích nghi, cộng sinh và dung hợp với các tín ngưỡng bản địa nhằm tạo nên sự khoan hòa trong tổng thể đời sống tâm linh. Hải Phòng là trung tâm kinh tế biển, công nghiệp và văn hóa của vùng duyên hải Bắc Bộ. Nơi đây vừa là một trong những cửa ngõ tiếp nhận Phật giáo từ rất sớm (với dấu tích Chùa Hang, tháp Tường Long), vừa lưu giữ tín ngưỡng thờ Mẫu gắn liền với truyền thống cư dân nông nghiệp và văn hóa sông biển.

Trong lịch sử và hiện tại, Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu tại Hải Phòng có sự đan xen, dung hợp sâu sắc trên nhiều bình diện. Tác giả chỉ ra rằng thực tế này phản bác nhận định của một số học giả cho rằng Việt Nam thiếu truyền thống dân chủ, dung hợp và khoan dung tôn giáo, hoặc mức độ đồng thuận tôn giáo chưa sâu đậm. Đồng thời, tư liệu nghiên cứu chuyên biệt về sự dung hợp giữa hai thực thể tâm linh này tại Hải Phòng còn thiếu vắng, tạo ra một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết một cách hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu để làm rõ những giá trị và việc bảo tồn giá trị của sự dung hợp ấy ở thành phố Hải Phòng hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Thứ nhất, phân tích khái quát về cơ sở dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở Thành phố Hải Phòng hiện nay.
    2. Thứ hai, trình bày và phân tích những biểu hiện và đặc điểm sự dung hợp Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay.
    3. Thứ ba, phân tích xu hướng vận động và bảo tồn giá trị của sự dung hợp Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Các biểu hiện của sự dung hợp trên các lĩnh vực tín ngưỡng, niềm tin, nghi lễ, lễ hội, không gian và cơ sở thờ tự.
    • Không gian: Thành phố Hải Phòng, trong đó điều tra xã hội học tập trung vào ba địa bàn trọng điểm: quận Lê Chân, quận Đồ Sơn và huyện Thủy Nguyên.
    • Thời gian và tư liệu thực tế: Số liệu khảo sát thực tế và các báo cáo quản lý tôn giáo, kinh tế - xã hội được tác giả thu thập, cập nhật đến giai đoạn 2014–2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm cứu hệ thống tư liệu nghiên cứu thành ba nhóm chính:

Tư liệu nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam

  • Nghiên cứu chung về Phật giáo: Công trình Phật giáo nhìn toàn diện của Piyadassi (Nguyễn Kim Khánh dịch); 2500 năm Phật giáo của P. Bapat; Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (1999) của Kimura Taiken; Phật giáo và Văn hóa cùng bộ Thiền luận (1992) của Daisetz Teitaro Suzuki. Các học giả trong nước đóng góp các giáo trình và chuyên khảo căn bản như Phật học phổ thông (1992) của Thích Thiện Hoa; Phật học cơ bản (tập 1, 2003) của Thích Viên Giác; Ấn Độ Phật giáo sử luận (2006) của Viên Trí; Lịch sử triết học Ấn Độ (2007) của Thích Mãn Giác; Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo (1994) của Thích Tâm Thiện.
  • Nghiên cứu về lịch sử và tư tưởng Phật giáo Việt Nam: Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (2000); Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học (1988); Thiền Uyển Tập Anh (Viện Nghiên cứu Phật học, 1990); Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981) của Nguyễn Đại Đồng (2012); Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước do Nguyễn Hồng Dương và Thích Thọ Lạc đồng chủ biên; Lịch sử đạo Phật Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam (2002) của Nguyễn Hùng Hậu.
  • Nghiên cứu về ảnh hưởng xã hội của Phật giáo: Các công trình của Nguyễn Tài Thư (Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, 1997); Nguyễn Đăng Duy (Phật giáo và văn hoá Việt Nam, 1999); Trần Văn Giàu (Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại, 1993; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, 1997–1998; Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, 1975); Nguyễn Phan Quang (Có một nền đạo lý ở Việt Nam, 1996); Nguyễn Thị Bảy (Văn hoá Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ, 1997); cùng các luận án của Lê Hữu Tuấn (1999), Tạ Chí Hồng (2004), Hoàng Thị Lan (2004), Lê Văn Lợi (2008), Nguyễn Thị Thúy Hằng (2015).
  • Tư liệu về Phật giáo Hải Phòng: Số lượng tư liệu rất hạn chế, chủ yếu mang tính thống kê, giới thiệu di tích như Chùa cổ Hải Phòng (Tập 1, giới thiệu 50 ngôi chùa); Chùa Đỏ xưa và Nay (2002) của Ngô Đăng Lợi; Hải Phòng di tích lịch sử văn hóa (1993) của Trịnh Minh Hiền; Du lịch văn hóa Hải Phòng (2006) của Trần Phương; Di tích lịch sử Tràng Kênh Thủy Nguyên Hải Phòng (2015) của Nguyễn Văn Mỹ; luận án Nghiên cứu văn bia Hải Phòng (2011) của Nguyễn Thị Kim Hoa; luận án Tín ngưỡng thờ thủy thần ở Hải Phòng (2011) của Trần Quốc Tuấn.

Tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu

  • Văn bản Hán Nôm và thư tịch thời kỳ trước: Vân Cát Lê gia ngọc phả, Truyền kỳ tân phả, Vân Cát thần nữ cổ lục; các khảo cứu Quốc ngữ và tiếng Pháp như Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính, Truyện thần nữ Vân Cát, Sự tích Liễu Hạnh công chúa (1959) của Trọng Hối, Le culte des immortels (1944) của Nguyễn Văn Huyên.
  • Các công trình nghiên cứu chuyên biệt: Đặng Văn Lung với Tam Tòa Thánh Mẫu (1991) và Văn hóa Thánh Mẫu (2004); Ngô Đức Thịnh với Đạo Mẫu ở Việt Nam (2 tập, 1996) và Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á (2004); Nguyễn Đăng Duy với Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (2001); Chu Quang Trứ (Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam, 2000); Trương Sĩ Hùng (Lịch sử tín ngưỡng Đông Nam Á, 2000/2003); Nguyễn Hữu Thông (Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Miền Trung); Vũ Ngọc Khánh (Tín ngưỡng dân gian Việt Nam, 2001); Trương Quốc Thắng (Lễ hội dân gian ở Nam bộ, 2003); Nguyễn Chí Bền (Văn hóa dân gian những phác thảo, 2003); Nguyễn Đức Lữ (Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, 2005); Mai Thanh Hải (Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, 2005); Nguyễn Ngọc Mai (Nghi lễ lên đồng lịch sử và giá trị, 2013).

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Tổng quan cho thấy các công trình đi trước chủ yếu nghiên cứu riêng rẽ lịch sử, giáo lý Phật giáo hoặc khảo tả tín ngưỡng thờ Mẫu như một hiện tượng văn hóa độc lập. Một số tác giả có nhắc đến sự xuất hiện của yếu tố Phật giáo trong truyền thuyết Mẫu Liễu Hạnh nhưng chưa đi sâu phân tích cơ chế dung hợp. Chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, có hệ thống về sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu tại địa bàn thành phố Hải Phòng dựa trên sự kết hợp giữa lý luận tôn giáo học và khảo sát xã hội học thực nghiệm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trọng tâm là học thuyết về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, cùng quy luật tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội. Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu được tiếp cận như hai tiểu hệ thống thuộc kiến trúc thượng tầng, tồn tại tương đối độc lập nhưng đan xen và tác động qua lại.

Khung lý thuyết liên ngành của đề tài bao gồm bốn lý thuyết chủ đạo:

  1. Lý thuyết xã hội học tôn giáo: Xem xét sự dung hợp như một hiện tượng văn hóa - xã hội, đánh giá quá trình hòa hợp giữa tôn giáo ngoại sinh (Phật giáo) và tín ngưỡng bản địa (thờ Mẫu) qua các chỉ báo định tính và định lượng.
  2. Lý thuyết văn hóa vùng: Phân tích đặc trưng văn hóa Duyên Hải của vùng đất Hải Phòng, làm rõ tính chất quy định của địa văn hóa, kinh tế biển đến lối ứng xử và sự tiếp nhận các cơ sở tâm linh (như Đền Bà Đế, Đền Chúa bà Năm Phương, Chùa Tháp Tường Long, Chùa Dư Hàng, Chùa An Đà).
  3. Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa: Nhận diện sự cộng sinh, tiếp thu và làm phong phú lẫn nhau giữa các giá trị đạo đức Phật giáo và nhu cầu tâm linh của tín ngưỡng bản địa.
  4. Lý thuyết chức năng trong tâm lý học tôn giáo: Giải thích nhu cầu tâm linh của con người xuất phát từ ba điều kiện sinh tồn cơ bản: sống trong môi trường bất định, khả năng kiểm soát thiên nhiên/xã hội còn hạn chế (bất lực), và tình trạng thiếu hụt nguồn lực trong đời sống xã hội.

Khái niệm và thuật ngữ công cụ

  • Sự dung hợp: Là quá trình hài hòa, hợp chung những điểm tương đồng của hai chủ thể để biến đổi, tiếp biến và cùng dựa vào nhau để tồn tại, phát triển trong một thể thống nhất; thực chất là sự hòa hợp trong sự khác biệt mà không đồng nhất hoàn toàn.
  • Tín ngưỡng và Tín ngưỡng thờ Mẫu: Tín ngưỡng là niềm tin vào cái thiêng, lực lượng siêu nhiên gắn với các thực hành nghi lễ truyền thống. Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ tục thờ nữ thần và chế độ thị tộc mẫu hệ, tôn vinh những phụ nữ có công với cộng đồng, đất nước làm Thánh Mẫu, Vương Mẫu và phát triển thành hệ thống Tam phủ - Tứ phủ.
  • Tôn giáo - Phật giáo: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội và thực thể xã hội có cấu trúc hoàn chỉnh (giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức). Phật giáo là tôn giáo giác ngộ, xem giáo lý như phương tiện dẫn dắt con người tu dưỡng đạo đức và vượt qua khổ đau.
  • Niềm tin và Niềm tin tôn giáo: Niềm tin tôn giáo là nhận thức dựa trên trực giác và tính thiêng, mang tính siêu lý, không đòi hỏi chứng minh bằng thực nghiệm khoa học, gắn bó với tâm lý và hoàn cảnh sống của con người.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát khoa học tại các cơ sở thờ tự; điều tra xã hội học bằng bảng hỏi; phân tích tổng kết kinh nghiệm từ các nghiên cứu trước.
  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích và tổng hợp lý thuyết; phân loại và hệ thống hóa lý thuyết; phương pháp giả thuyết; phương pháp lịch sử và logic.

Nguồn tư liệu và quy mô mẫu điều tra

Nguồn dữ liệu của luận án gồm tư liệu văn bản Hán Nôm, văn bia, thần tích, báo cáo quản lý nhà nước của UBND TP. Hải Phòng, số liệu thống kê của Thành hội Phật giáo Hải Phòng (năm 2014 toàn thành phố có 368 vị Tăng Ni, 580 ngôi chùa, 57 đạo tràng).

Về điều tra xã hội học, tác giả tiến hành phát 210 phiếu khảo sát và thu về 200 phiếu hợp lệ tại ba địa bàn: quận Lê Chân, quận Đồ Sơn và huyện Thủy Nguyên.

Nhóm đối tượng khảo sát Số lượng phiếu thu về Tỷ lệ cơ cấu (%)
Phật tử 70 35,0%
Người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu 50 25,0%
Cán bộ quản lý Nhà nước (quận, huyện, xã) 30 15,0%
Người dân địa phương 30 15,0%
Chức sắc, tu sĩ Phật giáo 20 10,0%
Tổng cộng mẫu điều tra 200 100,0%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về Phật giáo, Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hải Phòng và tín ngưỡng thờ Mẫu. Trên cơ sở chỉ ra khoảng trống về mặt học thuật, tác giả xây dựng khung lý thuyết liên ngành gồm xã hội học tôn giáo, văn hóa vùng, giao lưu tiếp biến văn hóa và tâm lý học tôn giáo chức năng.

Chương này cũng xác lập hệ thống khái niệm công cụ làm chuẩn mực phân tích xuyên suốt, phân định rõ ranh giới tương đối giữa tôn giáo, tín ngưỡng dân gian và các biểu hiện mê tín dị đoan; đồng thời định vị bản chất của sự dung hợp là quá trình cộng sinh, hòa hợp không gian và nghi lễ giữa hai truyền thống tâm linh.

Chương 2: Cơ sở của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay

Chương 2 luận giải các tiền đề hình thành nên sự dung hợp thông qua hai nhóm cơ sở:

  1. Cơ sở địa văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội:

    • Điều kiện tự nhiên và kinh tế: Hải Phòng là vùng đất cửa biển, có diện tích 1.507,57 km², dân số trên 1,9 triệu người (năm 2014 có 847.000 dân thành thị, 990.000 dân nông thôn, mật độ 1.260 người/km²). Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2014 đạt 8,53%, 6 tháng đầu năm 2015 đạt 9,1% (GDP đạt 37.254,4 tỷ đồng). Môi trường biển đảo nhiều biến động thiên tai tôi luyện cho cư dân tính cách kiên nghị, cởi mở, "ăn sóng nói gió" và nhạy bén tiếp nhận các luồng văn hóa mới.
    • Cơ sở văn hóa - tín ngưỡng: Đời sống tâm linh Hải Phòng lưu giữ tục thờ Cá Ngư Ông, Thủy thần, cùng hệ thống thần linh bản địa: tôn vinh Nữ tướng Lê Chân (người lập Trang An Biên), Lục bộ tiên công (gồm các ngài Hoàng Đại Hùng, Nguyễn Thanh Sam, Lê Hải Bộ, Lương Nuôi Lường, Đinh Chàng Ngọ, Phạm Cao Sơn), kết hợp 2 vị thần bảo trợ là Đế Thích thần vương và Nam Hải thần vương hợp thành "Bát bộ tôn thần", cùng thần Điểm Tước (Thần hoàng tổng Đồ Sơn với 16 đạo sắc phong thời Lê). Bên cạnh đó là sự hiện diện của Công giáo (32 giáo xứ thuộc giáo hạt Hải Phòng), Tin Lành (6 điểm nhóm hội thánh), cùng hệ thống lễ hội đặc thù: Chọi trâu Đồ Sơn, Kéo ngựa chạy vòng tròn ở Cát Hải, Đua thuyền rồng Cát Bà, Lễ hội Vật Cầu Đồ Sơn, Hội chèo bơi - đi kheo Đại Hợp (Kiến Thụy), Hội xuống biển Trân Châu (Cát Bà).
  2. Cơ sở triết lý của Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu:

    • Phật giáo truyền vào Hải Phòng từ thế kỷ III–II TCN qua đường biển Đồ Sơn gắn với tích sư Bầm trụ trì tại Chùa Hang, dấu tích thành cổ Nê Lê, sự hưng thịnh của các chùa tháp thời Lý – Trần như tháp Tường Long (thế kỷ XI), chùa Vân Bản, chùa Dư Hàng, chùa Mỹ Cụ. Tư tưởng từ bi, hỷ xả, nghiệp báo luân hồi và cứu độ chúng sinh của Phật giáo dễ dàng tương thích với nhu cầu cầu an, cầu tài lộc, che chở và đạo lý "uống nước nhớ nguồn" hướng về Mẹ thiên nhiên và các nữ anh hùng dân tộc trong tín ngưỡng thờ Mẫu.

Chương 3: Biểu hiện cơ bản của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thực chứng và điều tra xã hội học về biểu hiện của sự dung hợp:

  • Qua niềm tin và thực hành tôn giáo: Đa số người dân khi đến cơ sở thờ tự có niềm tin phối hợp giữa Phật và Mẫu. Người dân coi Phật là nơi gửi gắm sự thanh tịnh, bình an tâm hồn, định hướng đạo đức; trong khi Mẫu là chỗ dựa cho những ước vọng thiết thực trong cuộc sống trần thế (sức khỏe, làm ăn, may mắn). Hình tượng Nữ tướng Lê Chân tại Đền Nghè được người dân Hải Phòng tôn kính vừa như một vị Thánh Mẫu, vừa mang phẩm chất của Phật Bà phù hộ độ trì.
  • Qua không gian và thời gian thờ cúng:
    • Không gian: Xuất hiện phổ biến mô hình kiến trúc hỗn dung "Tiền Phật, Hậu Mẫu" hoặc "Tiền Phật, Hậu Thánh". Hầu hết các ngôi chùa cổ và chùa làng tại Hải Phòng đều bố trí điện thờ Mẫu (hoặc ban Tam Tòa Thánh Mẫu) trong khuôn viên chùa (nhà hậu đường, dãy hành lang hoặc một tòa điện riêng). Ngược lại, tại các đền, phủ thờ Mẫu (như Phủ Thượng Đoạn, Đền Tam Kì, Đền Cấm), ban thờ Phật Thích Ca hoặc Quán Thế Âm Bồ Tát luôn được đặt ở vị trí trang trọng phía trước hoặc tầng trên.
    • Thời gian: Các ngày sóc vọng (mùng 1, ngày rằm âm lịch), các tiết lễ lớn đầu năm (tháng Giêng, tháng Ba âm lịch với quan niệm "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ") là thời điểm diễn ra đồng thời các hoạt động dâng hương lễ Phật và cầu Mẫu.
  • Qua nghi lễ và lễ hội: Trong các nghi lễ của Đạo Mẫu (đặc biệt là nghi lễ lên đồng/hầu bóng), khoa cúng thỉnh Phật, tụng kinh Dược Sư, kinh Cứu Khổ luôn được tiến hành trước khi phát tấu thỉnh mời chư vị Thánh Mẫu, Quan lớn, Chầu bà, Ông hoàng, Cô, Cậu. Trong các lễ hội Phật giáo tại địa phương, các nghi thức rước Thánh, tế lễ thần bản cảnh cũng được lồng ghép hài hòa.
  • Đặc điểm cơ bản trong quá trình dung hợp: Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Hải Phòng tiếp thu hệ thống giáo lý nhân quả, luân hồi và tính chất từ bi của Phật giáo để hoàn thiện hệ thống biểu tượng tâm linh; ngược lại, Phật giáo Hải Phòng tiếp nhận các yếu tố tín ngưỡng dân gian để gắn bó sâu sắc với đời sống tâm lý của cư dân vùng sông biển.

Chương 4: Xu hướng vận động phát triển và bảo tồn giá trị văn hóa của sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thành phố Hải Phòng hiện nay

Chương 4 phân tích các chiều hướng phát triển và đề xuất các giải pháp bảo tồn:

  • Dự báo ba xu hướng vận động:
    1. Xu hướng lịch sử hóa và hiện đại hóa: Các nghi lễ, không gian thờ cúng được cải tạo, chỉnh trang theo hướng khang trang, đáp ứng nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh của xã hội hiện đại.
    2. Xu hướng địa phương hóa: Sự kết hợp giữa Phật giáo và Đạo Mẫu tiếp tục gắn liền với các nhân vật lịch sử, thần tích riêng của vùng đất Cảng (như tín ngưỡng thờ Chúa bà Năm Phương, Nữ tướng Lê Chân).
    3. Xu hướng gia tăng mê tín dị đoan và thương mại hóa: Tình trạng lạm dụng việc hầu đồng, dâng sao giải hạn, đốt vàng mã tràn lan, buôn thần bán thánh và sự xâm nhập của một số hiện tượng tôn giáo mới làm sai lệch giá trị truyền thống.
  • Giá trị của sự dung hợp: Luận án khẳng định sự dung hợp mang lại các giá trị đạo đức (hướng thiện, hiếu nghĩa), giá trị cố kết cộng đồng, giá trị thẩm mỹ và bảo tồn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể.
  • Giải pháp và bảo tồn giá trị: Đề xuất nâng cao năng lực quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng; phân định rõ giữa sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lành mạnh với tệ nạn mê tín dị đoan; phát huy vai trò tự quản của cộng đồng và sự tham gia của Giáo hội Phật giáo; bảo tồn tính nguyên vẹn của không gian kiến trúc cổ tại các ngôi chùa, đền, phủ hỗn dung.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Làm rõ cơ sở toàn diện của sự dung hợp: Phân tích một cách có hệ thống các điều kiện địa văn hóa, kinh tế biển, chính trị - xã hội và cơ sở triết lý tương đồng giữa tư tưởng từ bi Phật giáo với đạo lý nhân sinh của tín ngưỡng thờ Mẫu tại thành phố Hải Phòng.
  2. Khái quát các phương thức và đặc điểm biểu hiện: Dựa trên khảo sát thực địa, điền dã và điều tra xã hội học, luận án chỉ rõ các hình thái dung hợp cụ thể trong đời sống tâm linh: từ niềm tin hỗn dung, cấu trúc không gian thờ tự liên kết ("Tiền Phật Hậu Mẫu"), sự đồng quy thời gian thờ phụng đến việc phối hợp nghi thức trong tế lễ và lễ hội.
  3. Đánh giá hệ giá trị và dự báo xu hướng: Phân tích khách quan các giá trị văn hóa, xã hội của hiện tượng dung hợp tôn giáo - tín ngưỡng, đồng thời nhận diện nguy cơ thương mại hóa tâm linh trong điều kiện kinh tế thị trường.
  4. Bổ sung cứ liệu lý luận: Cung cấp minh chứng thực tiễn về truyền thống khoan dung, dung hợp tôn giáo của người Việt Nam, góp phần củng cố lý luận về mối quan hệ giữa tôn giáo ngoại nhập và tín ngưỡng bản địa trong nghiên cứu tôn giáo học.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước đối với các cơ sở thờ tự hỗn hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
  • Làm tài liệu tham khảo cho công tác quản lý lễ hội, bảo tồn di sản văn hóa tâm linh tại TP. Hải Phòng và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
  • Đề xuất nhóm giải pháp quản lý: nâng cao ý thức cộng đồng, ngăn chặn việc trục lợi tâm linh, giữ gìn thuần phong mỹ tục trong thực hành nghi lễ lên đồng và đi lễ chùa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi điều tra xã hội học của luận án tập trung tại ba địa bàn đại diện (Lê Chân, Đồ Sơn, Thủy Nguyên) với 200 phiếu khảo sát, chưa bao quát toàn bộ các huyện đảo xa như Bạch Long Vĩ hay vùng ven biển sâu như Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Nguồn tư liệu thành văn về lịch sử Phật giáo riêng của Hải Phòng còn mỏng, chủ yếu dựa vào thần tích, ngọc phả và khảo sát hiện vật thực địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng với các trung tâm Mẫu khác ở đồng bằng Bắc Bộ (như Nam Định, Hà Nam, Hà Nội); khảo sát sâu hơn sự biến đổi của nghi lễ lên đồng và không gian thờ cúng trong bối cảnh quá trình đô thị hóa nhanh và phát triển mạnh mẽ của kinh tế du lịch.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, tôn giáo: Giúp các cán bộ Ban Tôn giáo, Sở Văn hóa - Thể thao nắm bắt cơ chế sinh hoạt tâm linh thực tế của quần chúng nhân dân tại các di tích có sự đan xen giữa Chùa và Đền/Phủ, từ đó xây dựng quy chế quản lý phù hợp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về Tôn giáo học, Xã hội học tôn giáo, Văn hóa học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Văn hóa dân gian Duyên Hải Bắc Bộ.
  • Các tổ chức tôn giáo và Ban quản lý di tích: Cung cấp tư liệu cho Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP. Hải Phòng và các thủ nhang, đồng đền trong việc bảo tồn không gian thiêng và duy trì nghi lễ truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "sự dung hợp" giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu như thế nào?

Luận án xác định sự dung hợp là quá trình hài hòa, hợp chung những điểm tương đồng của hai chủ thể tâm linh để biến đổi, tiếp biến và cùng dựa vào nhau tồn tại, phát triển tạo thành sự đa dạng trong một thể thống nhất. Thực chất đây là "sự hòa hợp trong sự khác biệt", không xóa bỏ ranh giới giáo lý mà kết hợp các yếu tố tương thích về không gian thờ cúng, niềm tin và nghi lễ trong cùng một chỉnh thể sinh hoạt văn hóa dân gian.

2. Hệ thần linh bản địa đặc thù tại Hải Phòng được nhắc đến trong luận án gồm những ai?

Bên cạnh hệ thống thần linh Tam phủ - Tứ phủ và chư Phật, đời sống tâm linh Hải Phòng ghi nhận các đối tượng phụng thờ đặc thù:

  • Nữ tướng Lê Chân: Vừa được tôn vinh là Thành hoàng, Thánh Mẫu, vừa được xem như hiện thân Phật Bà che chở cho vùng đất An Biên - Hải Phòng.
  • Lục bộ tiên công: Sáu vị tiền hiền khai phá đất đai gồm Hoàng Đại Hùng, Nguyễn Thanh Sam, Lê Hải Bộ, Lương Nuôi Lường, Đinh Chàng Ngọ, Phạm Cao Sơn.
  • Bát bộ tôn thần: Gồm Lục bộ tiên công kết hợp cùng 2 vị thần bảo trợ là Đế Thích thần vương (thần trên trời) và Nam Hải thần vương (thần dưới biển).
  • Thần Điểm Tước: Vị chủ thần của tổng Đồ Sơn gắn với 16 đạo sắc phong thời Lê.
  • Chúa bà Năm Phương: Vị nữ thần bản cảnh được thờ phụng rộng rãi tại Đền Cấm, Cây Đa 13 gốc, Đền Tiên Nga.

3. Quy mô và cơ cấu mẫu khảo sát xã hội học của luận án được thực hiện ra sao?

Tác giả tiến hành phát 210 phiếu điều tra và thu về 200 phiếu hợp lệ tại 3 quận/huyện: Lê Chân, Đồ Sơn và Thủy Nguyên. Cơ cấu mẫu gồm 70 Phật tử (35%), 50 người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu (25%), 30 người dân địa phương (15%), 30 cán bộ quản lý Nhà nước cấp quận/huyện/xã (15%) và 20 chức sắc, tu sĩ Phật giáo (10%).

4. Biểu hiện cụ thể của sự dung hợp trong không gian thờ tự tại Hải Phòng là gì?

Biểu hiện rõ nét nhất là cấu trúc kiến trúc "Tiền Phật, Hậu Mẫu" hoặc "Tiền Phật, Hậu Thánh". Tại các ngôi chùa cổ Hải Phòng, điện thờ Mẫu thường được bố trí ở phía sau hoặc bên cạnh chính điện thờ Phật. Ngược lại, tại các ngôi đền, điện, phủ thờ Mẫu, tượng Phật (đặc biệt là tượng Phật Thích Ca và Quan Âm Bồ Tát) luôn được bài trí ở vị trí trang nghiêm phía trước hoặc tầng cao nhất để quy tụ trật tự tâm linh.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phan Thị Kim (Thích Đàm Kiên) là công trình nghiên cứu chuyên khảo về sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu tại thành phố Hải Phòng dựa trên cách tiếp cận liên ngành tôn giáo học, văn hóa học và xã hội học. Tác giả đã làm rõ các cơ sở địa văn hóa duyên hải, cơ sở triết lý tương đồng, đồng thời lượng hóa các biểu hiện dung hợp qua niềm tin, nghi lễ và không gian thờ tự từ 200 mẫu khảo sát thực tế. Công trình khẳng định giá trị lịch sử - văn hóa của truyền thống dung hợp tôn giáo tại địa phương, dự báo các xu hướng biến đổi và đề xuất phương hướng bảo tồn các giá trị tâm linh lành mạnh trong bối cảnh xã hội hiện đại.