Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số: 62.01) của tác giả Phan Nhật Trinh (Thích Nguyên Hạnh) với đề tài "Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (Qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội)" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Kim Oanh.
Về tính cấp thiết, tác giả luận án chỉ ra rằng Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên theo hai con đường: đường biển do các tăng sĩ, thương nhân Ấn Độ và đường bộ do các nhà sư Trung Hoa. Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã dung hợp với tín ngưỡng bản địa sẵn có, đặc biệt là tục thờ cúng tổ tiên – một giá trị vừa là đạo lý, vừa là tín ngưỡng phổ quát của cư dân đất Việt. Sự kết hợp này giúp Phật giáo loại bỏ các yếu tố triết lý xa xôi để thẩm thấu sâu vào đời sống nhân dân lao động, tạo nên sức sống bền vững cho Phật giáo Việt Nam qua các biến thiên lịch sử.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định xuất phát từ thực tiễn: các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng của Phật giáo trên bình diện tư tưởng, văn hóa thời kỳ Lý - Trần hoặc sự dung hợp trong bối cảnh truyền thống. Từ năm 1986, khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thị trường, các chính sách tôn giáo của Nhà nước đã tạo điều kiện cho sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo phục hồi mạnh mẽ. Số lượng phật tử và người dân đến chùa gia tăng nhanh chóng; sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mang nhiều màu sắc mới nhưng đồng thời cũng nảy sinh những biểu hiện lệch lạc, biến tướng. Ngôi chùa Bắc tông ở các đô thị trở thành không gian biểu hiện tập trung của mối quan hệ này. Với tư cách là một nhà nghiên cứu và đồng thời là người tu hành trụ trì chùa Tào Sách (Hà Nội), tác giả đặt ra yêu cầu khảo cứu thực nghiệm nhằm nhận diện các biểu hiện, mặt tích cực và bất cập của hiện tượng dung hợp nêu trên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay; xác định những vấn đề đặt ra và xu hướng phát triển trong những năm tới; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực nảy sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu được đánh số và xác định cụ thể trong văn bản:
- Thứ nhất: Phân tích cơ sở tiếp cận sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay.
- Thứ hai: Phân tích những biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (qua khảo sát ở một số chùa tại Hà Nội) trên một số lĩnh vực: đời sống văn hóa tín ngưỡng; nghi lễ thờ cúng.
- Thứ ba: Dự báo xu hướng phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trong những năm tới, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong quá trình dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
Câu hỏi nghiên cứu trung tâm:
- Sự dung hợp giữa Phật giáo với tục thờ cúng tổ tiên hiện nay biểu hiện như thế nào?
- Những mặt tích cực và bất cập nảy sinh từ sự dung hợp đó là gì?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại các ngôi chùa Bắc tông trên địa bàn thành phố Hà Nội, trong đó tập trung khảo cứu sâu tại ba cơ sở tự viện: Chùa Tào Sách (phường Nhật Tân, quận Tây Hồ), Chùa Bồ Đề (phường Bồ Đề, quận Long Biên) và Chùa Pháp Vân (phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1986 (khởi đầu công cuộc Đổi mới) đến năm 2016.
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Tên đề tài |
Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (Qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội) |
| Tác giả |
Phan Nhật Trinh (Thích Nguyên Hạnh) |
| Chuyên ngành & Mã số |
Tôn giáo học – 62.01 |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2016) |
| Không gian khảo sát |
Chùa Tào Sách (Tây Hồ), Chùa Bồ Đề (Long Biên), Chùa Pháp Vân (Hoàng Mai), Hà Nội |
| Khung thời gian |
1986 – 2016 |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chuyên đề chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu về Phật giáo và lịch sử Phật giáo:
Tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2 tập) của Lê Mạnh Thát (2001); Việt Nam Phật giáo sử luận (3 tập) của Nguyễn Lang (2008); Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2 tập) do Nguyễn Tài Thư chủ biên (1989); Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Thích Thanh Kiểm (1989); các bản dịch Lịch sử Phật giáo thế giới của Thánh Nghiêm (1995) và Tịnh Hải (1992). Những công trình này phân tích nguồn gốc, kinh điển, giáo lý và khẳng định Phật giáo Việt Nam đã trải qua quá trình bản địa hóa lâu dài để hòa nhập vào đời sống tâm linh dân tộc.
Nhóm 2: Các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng truyền thống và thờ cúng tổ tiên:
Bao gồm các công trình nghiên cứu tôn giáo và văn hóa dân gian của các học giả trong và ngoài nước: Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng của X. Tôcarev (1994); Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt của Léopold Cadière (1997); Lĩnh Nam trích quái của Vũ Quỳnh (1992); Việt điện U linh của Lý Tế Xuyên (1992); Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1995); Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam của Toan Ánh (1996); Tín ngưỡng làng xã của Vũ Ngọc Khánh (1996); Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (1996) và Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2001) do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên; Hiện tượng mê tín dị đoan ở nước ta hiện nay, thực trạng, biểu hiện và đặc điểm của Nguyễn Đức Lữ (1999); Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San (1998); Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Trần Đăng Sinh (2002); Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa miếu phủ của Trương Thìn (2010). Các nghiên cứu này làm rõ nguồn gốc phụ quyền, cấu trúc nghi lễ và chức năng văn hóa của tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình, họ tộc và làng xã.
Nhóm 3: Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng của người Việt:
Tác giả khảo sát các công trình: Phật giáo và văn hóa dân tộc của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (1989); Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam của Hà Văn Tấn (2005); Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam của Nguyễn Hồng Dương (2004); Phật giáo trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh và Lê Đức Hạnh (2011); Phật giáo trong lòng người Việt của Hạnh Nguyên (2013); các bài viết của Trần Quốc Vượng (1986), Phan Đại Doãn (1986), Vũ Thanh Huân (1986); bài viết Về xu hướng thế tục hóa và dân tộc hóa của Phật giáo của Minh Chi (2001); Về mối quan hệ giữa nhu cầu của người đi lễ chùa và dịch vụ bán đồ lễ của Hoàng Thu Hương (2006); các nghiên cứu về Phật giáo dân gian: con đường nhập thế của Phật giáo Việt Nam và Dịch vụ Phật giáo của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2008).
Trong các nghiên cứu trên, tác giả luận án đặc biệt tiếp thu luận điểm của Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn về tính hỗn dung tôn giáo tại trung tâm Luy Lâu từ đầu Công nguyên, nơi Phật giáo tích hợp với tín ngưỡng thờ Nữ thần nông nghiệp bản địa (Tứ Pháp: Mây, Mưa, Sấm, Chớp) để hình thành các Phật Bà (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Luận án cũng tiếp thu nhận định của Nguyễn Duy Hinh về thực trạng tăng ni hiện nay dành nhiều thời gian thực hiện các pháp sự tang tế, cầu siêu, rước vong linh lên chùa; đồng thời xem xét phân tích của Nguyễn Thị Minh Ngọc về khái niệm Phật giáo dân gian và dịch vụ Phật giáo (cầu an, cầu siêu, đàn Dược Sư, cúng sao giải hạn, bán khoán, cắt tiền duyên). Tác giả luận án chỉ ra rằng cách tiếp cận của Nguyễn Thị Minh Ngọc thuần túy dưới góc nhìn kinh tế thị trường nên chưa phản ánh đầy đủ chức năng hoằng pháp và giáo dục đạo đức của nghi lễ Phật giáo.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình đi trước chỉ tập trung phân tích sự hỗn dung tôn giáo trong lịch sử thời kỳ cổ - trung đại hoặc mô tả đơn lẻ từng phong tục thờ cúng. Rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn đương đại từ 1986 đến nay. Luận án bổ khuyết khoảng trống này bằng việc khảo cứu thực chứng sự dung hợp tại các cơ sở tự viện cụ thể trên địa bàn đô thị Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận mác-xít (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và tín ngưỡng.
Về lý thuyết chuyên ngành, luận án vận dụng ba khung lý thuyết chính:
- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa (Acculturation): Được hình thành từ nhân học Anglo-Saxon cuối thế kỷ XIX và các nhà nhân học Mỹ, lý thuyết này giải thích sự tiếp xúc trực tiếp, liên tục giữa hai nền văn hóa dẫn đến sự biến đổi các mẫu hình văn hóa của một hoặc cả hai bên nhưng vẫn giữ vững căn tính riêng. Luận án vận dụng lý thuyết này để luận giải bản chất quá trình Phật giáo thích nghi với văn hóa Việt Nam và làm phong phú thêm truyền thống văn hóa bản địa.
- Lý thuyết hệ thống hóa văn hóa của J. Bonnemaison (2000): Mô hình này xác định bốn trụ cột cấu thành hệ thống văn hóa: Di sản kiến thức (ethnosciences), Di sản kỹ thuật (lối sống và công cụ theo Paul Vidal de la Blache), Tín ngưỡng (trật tự tư duy, giá trị thế giới quan) và Không gian (quan hệ địa lý - văn hóa theo Fernand Braudel với các cấp độ nôi văn hóa, vùng văn hóa, không gian văn hóa).
- Lý thuyết thống nhất các sự kiện văn hóa.
| Khái niệm công cụ |
Nội hàm xác định trong luận án |
| Tín ngưỡng |
Niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh được biểu hiện qua hệ thống nghi lễ thờ cúng (vận dụng quan điểm của Durkheim, Schmidt, Mác, Ăngghen, Đặng Nghiêm Vạn). |
| Thờ cúng tổ tiên |
Sự tưởng nhớ và cúng tế người đã khuất; theo nghĩa hẹp là cúng tế ông bà, cha mẹ cùng huyết thống trong gia đình, dòng họ; theo nghĩa rộng là tôn vinh người có công với làng xã, đất nước. |
| Sự dung hợp (Acculturation) |
Quá trình hòa hợp giữa các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau vào một thể thống nhất để cùng tồn tại và phát triển. |
| Nghi lễ (Ritual) |
Hành vi mang tính nghi thức, quy chuẩn phản ánh mối quan hệ giữa con người trần thế với thế giới siêu linh, làm cho giáo lý tôn giáo trở nên sống động (theo Victor Turner, Đặng Nghiêm Vạn). |
| Người Việt |
Tộc người Kinh, chiếm 85,7% dân số theo Tổng điều tra dân số năm 2009 (73.427 nghìn người), giữ vai trò trung tâm trong lịch sử dựng nước và phát triển văn hóa dân tộc. |
Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án sử dụng phương pháp liên ngành Tôn giáo học, kết hợp phân tích văn bản, so sánh lịch sử, tổng hợp logic và phương pháp nghiên cứu điền dã của Nhân học tôn giáo. Các công cụ thu thập dữ liệu chính gồm:
- Quan sát tham dự trực tiếp các sinh hoạt tín ngưỡng, khóa lễ cầu an, cầu siêu, lễ Vu Lan tại các chùa khảo sát.
- Phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng: tăng ni trụ trì, chức sắc tôn giáo, phật tử thường trực và người dân đi lễ chùa.
- Nguồn tư liệu: Kinh điển Phật giáo (Kinh Chính pháp niệm Phật, Pháp Uyển Châu Lâm, Đại thừa bản sinh tâm địa quán, Tứ ân hiếu thuận sao...), sách gốc, Từ điển Phật học, tư liệu điền dã thực địa, cùng các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của cấp ủy, chính quyền các phường Nhật Tân, Bồ Đề, Hoàng Liệt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu, lý thuyết nghiên cứu và một số khái niệm
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các nguồn tài liệu, lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung: Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng truyền thống và mối quan hệ giao thoa giữa Phật giáo với văn hóa dân tộc. Tác giả phân tích các luận điểm của các học giả tiền bối như Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Thị Minh Ngọc nhằm rút ra những vấn đề kế thừa và xác định rõ khoảng trống khoa học của đề tài.
Chương này cũng trình bày khung lý thuyết nghiên cứu gồm Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa và Lý thuyết hệ thống hóa văn hóa của Bonnemaison (với 4 trụ cột: kiến thức, kỹ thuật, tín ngưỡng, không gian). Đồng thời, tác giả xác lập thao tác luận và định nghĩa hệ thống khái niệm công cụ: Tín ngưỡng, Thờ cúng tổ tiên (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, ở 3 cấp độ: gia đình/họ tộc, làng xã, quốc gia), Sự dung hợp, Nghi lễ và Người Việt.
Chương 2: Khái quát về Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay và địa bàn nghiên cứu
Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử du nhập và tiếp nhận Phật giáo của người Việt. Phật giáo do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Tất Đạt Đa, sinh năm 563 TCN, mất năm 483 TCN tại Kapilavastu) sáng lập, phân chia thành hai phái Tiểu Thừa (Nam Tông) và Đại Thừa (Bắc Tông). Khi truyền vào Việt Nam, Phật giáo Đại Thừa phát triển chủ đạo và dung hợp ba tông phái:
- Thiền Tông: Đề cao tự lực, giác ngộ tại tâm, phát triển mạnh trong tầng lớp quý tộc thời Lý - Trần (tiêu biểu với phái Thảo Đường, Trúc Lâm).
- Mật Tông: Sử dụng chân ngôn, phù chú, ấn quyết; hòa nhập với phương thuật dân gian. Dấu ấn Mật Tông thể hiện qua cột kinh đá Hoa Lư do Đinh Liễn dựng thế kỷ X, hành trạng của các nhà sư thời Tiền Lê (Mahamaya) và thời Lý, Trần (Từ Đạo Hạnh tu Mật giáo tại chùa Thầy, Minh Không/Không Lộ chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông, Du Chi Bà Lam thời Trần Nhân Tông).
- Tịnh Độ Tông: Dựa vào tha lực niệm danh hiệu Phật A Di Đà để cầu vãng sinh Tây Phương Cực Lạc. Với phương pháp tu hành đơn giản, Tịnh Độ Tông trở thành khuynh hướng chủ đạo, đáp ứng tâm lý bình dân của đa số người Việt.
Về quan niệm tổ tiên trong Phật giáo, luận án phân tích cấu trúc thờ phụng: thờ Phật (Phật Thích Ca, chư Phật Tam Thế), Bồ Tát (hành trì Ba-la-mật, 52 quả vị), La Hán (thoát khỏi 10 trói buộc), Bát Bộ Kim Cương, Hộ Pháp (ông Thiện Khuyến thiện, ông Ác Trừng ác), Thánh Tăng A Nan Đà, Đức Tổ Tây Bồ Đề Đạt Ma và các thế hệ Sư Tổ tại các Tổ đình. Luận án nhấn mạnh giáo lý "Tứ Ân" (Ân Tam Bảo, Ân cha mẹ, Ân Quốc gia xã hội, Ân pháp giới chúng sinh) chính là nền tảng giáo lý kết nối trực tiếp với đạo lý hiếu thảo thờ cúng tổ tiên của người Việt.
Chương 2 cũng phân tích bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: là đạo lý cội nguồn, biểu hiện của ý thức "sinh ký tử quy", tạo nên sự cố kết nhân tâm bền vững từ gia đình, dòng họ đến làng xã và đất nước. Cuối chương, tác giả giới thiệu khái quát đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội và diện mạo ba ngôi chùa khảo sát: Chùa Tào Sách (phường Nhật Tân, quận Tây Hồ), Chùa Bồ Đề (phường Bồ Đề, quận Long Biên) và Chùa Pháp Vân (phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai).
Chương 3: Biểu hiện sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội)
Chương 3 tập trung khảo cứu thực chứng các biểu hiện dung hợp tại các ngôi chùa ở Hà Nội trên hai phương diện:
- Biểu hiện trong đời sống tinh thần:
- Thực hành tín ngưỡng: Người dân đưa tro cốt, di ảnh và bài vị người thân quá cố gửi vào chùa để nương nhờ kinh kệ Tam Bảo; tham gia các khóa lễ cầu siêu phả độ gia tiên, cầu an, cúng giỗ tại chùa. Đại lễ Vu Lan vào rằm tháng Bảy trở thành sự kiện dung hợp đỉnh cao giữa nghi thức Báo hiếu phụ mẫu của Phật giáo với tập tục cúng xá tội vong nhân của tín ngưỡng dân gian.
- Nghi lễ thờ cúng: Sử dụng hệ thống văn sớ, kinh sám hối, khoa cúng Phật kết hợp với khoa cúng tiến linh gia tiên; nghi thức chẩn tế cô hồn kết hợp cầu nguyện cho tổ tiên nhiều đời siêu thoát.
- Cuộc sống thường ngày: Lan tỏa các giá trị đạo đức Phật giáo vào ứng xử gia đình, duy trì nếp sống hiếu nghĩa, thực hành ăn chay, phóng sinh và làm việc thiện nguyện để hồi hướng công đức cho tổ tiên.
- Biểu hiện trong cách thức bài trí và kiến trúc ngôi chùa:
- Kiến trúc: Duy trì cấu trúc mặt bằng truyền thống kiểu "tiền Phật hậu Tổ", "tiền Phật hậu Thánh" hoặc "nội công ngoại quốc". Không gian chùa kết hợp hài hòa giữa khu vực tôn nghiêm thờ Phật với khu vực tưởng niệm tổ tiên và tiền nhân.
- Bài trí thờ tự: Gian chính điện thờ Phật Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca; gian nhà Tổ thờ Thánh Tăng, Bồ Đề Đạt Ma và các đời sư trụ trì; đồng thời bố trí các gian thờ vong, ban thờ bách linh, nơi lưu giữ hàng trăm bài vị, hũ tro cốt và di ảnh của thân nhân người dân địa phương.
Những vấn đề đặt ra từ sự dung hợp: Tác giả chỉ rõ mặt trái nảy sinh dưới tác động của kinh tế thị trường: tình trạng thương mại hóa các khóa lễ tâm linh; hiện tượng đốt vàng mã tràn lan gây lãng phí và ô nhiễm môi trường; sự nhầm lẫn giữa giáo lý từ bi, nhân quả của Phật giáo với các hình thức mê tín dị đoan (như cầu cúng trục lợi, dịch vụ dâng sao giải hạn, cắt tiền duyên biến tướng) làm sai lệch bản chất tốt đẹp của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Phật pháp.
Chương 4: Xu hướng phát triển, giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy những giá trị văn hóa của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
Chương 4 dự báo xu hướng phát triển: Mối quan hệ dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên sẽ tiếp tục tồn tại lâu dài, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu tâm linh đô thị; xu hướng thế tục hóa và nhập thế xã hội của Phật giáo tiếp tục gia tăng.
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp:
- Đẩy mạnh công tác hoằng pháp, tuyên truyền giáo lý Phật giáo chính tín để nâng cao nhận thức của phật tử và người dân.
- Nâng cao phẩm hạnh, trình độ Phật học và năng lực quản lý của đội ngũ tăng ni trụ trì tại các cơ sở tự viện.
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương; kiểm soát việc thực hiện nếp sống văn hóa trong lễ hội và nghi lễ chùa chiền.
- Bảo tồn và phát huy các giá trị kiến trúc, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể liên quan đến sự dung hợp.
Hệ thống kiến nghị được gửi đến:
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Hướng dẫn thống nhất các nghi thức tang tế, cầu siêu, quy chuẩn việc gửi tro cốt/vong linh tại tự viện, kiên quyết bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan và đốt vàng mã trong chùa.
- Các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền các cấp (Ban Tôn giáo, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội): Phối hợp chặt chẽ với nhà chùa trong việc quy hoạch không gian văn hóa tâm linh, bảo tồn di tích và đảm bảo an ninh trật tự trong các dịp lễ hội lớn.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ quy luật giao lưu, tiếp biến văn hóa và cơ chế dung hợp giữa một tôn giáo ngoại nhập (Phật giáo) với một tín ngưỡng bản địa cốt lõi (thờ cúng tổ tiên) của người Việt trong bối cảnh xã hội chuyển đổi từ năm 1986 đến nay dưới góc độ Tôn giáo học. Luận án khẳng định sự dung hợp này không làm triệt tiêu căn tính của mỗi bên mà tạo nên một thể thống nhất hữu cơ, đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người trong xã hội hiện đại.
Về mặt thực tiễn, luận án có các đóng góp cụ thể:
- Khảo sát toàn diện diện mạo, phương thức và biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên qua thực tế tại các chùa Tào Sách, Bồ Đề, Pháp Vân ở thành phố Hà Nội trên các bình diện: thực hành tín ngưỡng, nghi lễ thờ cúng và cấu trúc không gian kiến trúc thờ tự.
- Phân tích khách quan các giá trị tích cực (giáo dục đạo hiếu, củng cố đạo đức gia đình, gắn kết cộng đồng) và chỉ rõ các biểu hiện lệch lạc, biến tướng (thương mại hóa dịch vụ tâm linh, đốt vàng mã, mê tín dị đoan) nảy sinh từ tác động của kinh tế thị trường.
- Dự báo xu hướng vận động và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị có tính khả thi đối với Giáo hội Phật giáo và cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng sinh hoạt tín ngưỡng - tôn giáo lành mạnh, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn lực và thời gian, luận án tập trung khảo sát sâu tại một số ngôi chùa Bắc tông đại diện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khung thời gian từ 1986 đến 2016. Luận án chưa mở rộng phạm vi khảo cứu so sánh với các ngôi chùa Nam tông ở khu vực Nam Bộ, cũng như chưa đi sâu khảo sát diện rộng tại các vùng nông thôn thuần túy của các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các nghiên cứu sau có thể:
- Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát so sánh sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giữa các vùng miền văn hóa (Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ).
- Nghiên cứu so sánh sự dung hợp này giữa các hệ phái Phật giáo khác nhau tại Việt Nam (Bắc tông, Nam tông Khmer, Nam tông Kinh và Phật giáo Khất sĩ).
- Đi sâu nghiên cứu tác động của truyền thông số và quá trình đô thị hóa mới đối với các hình thức thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên tại các tự viện Phật giáo.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Tôn giáo học, Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học và Lịch sử Việt Nam: Tham khảo khung lý thuyết tiếp biến văn hóa, hệ thống hóa văn hóa và phương pháp nghiên cứu điền dã tôn giáo đô thị.
- Các nhà quản lý nhà nước về tôn giáo và văn hóa (Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo các tỉnh/thành phố, ngành Văn hóa - Thể thao): Vận dụng các phát hiện thực tế và nhóm kiến nghị của luận án vào việc xây dựng chính sách quản lý sinh hoạt tôn giáo, quản lý di tích tự viện và ngăn chặn các biến tướng mê tín dị đoan.
- Chức sắc, tăng ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Sử dụng các phân tích về giáo lý Tứ Ân và nghi lễ làm tài liệu tham khảo cho hoạt động hoằng pháp, hướng dẫn tín đồ thực hành nếp sống đạo đức và nghi lễ chính tín.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn khảo sát sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tại các chùa ở Hà Nội?
Hà Nội là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước, nơi có mật độ di tích chùa chiền Bắc tông dày đặc và đang trải qua quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nhanh chóng sau Đổi mới 1986. Tại đây, sự gia tăng nhu cầu tâm linh của cư dân đô thị thể hiện rất rõ nét qua các hoạt động gửi tro cốt, cầu an, cầu siêu và tổ chức lễ hội tại chùa. Đồng thời, tác giả luận án là người tu hành trụ trì chùa Tào Sách (Hà Nội), có điều kiện quan sát tham dự trực tiếp và nắm bắt sâu sắc các hoạt động thực hành tín ngưỡng tại địa bàn này.
2. Quan niệm "Tứ Ân" trong giáo lý Phật giáo gồm những gì và có vai trò như thế nào đối với sự dung hợp?
Theo các kinh điển Phật giáo (như Kinh Chính pháp niệm Phật, Pháp Uyển Châu Lâm, Đại thừa bản sinh tâm địa quán) được luận án tổng kết, "Tứ Ân" gồm bốn ân trọng: Ân Tam Bảo, Ân cha mẹ, Ân Quốc gia xã hội và Ân pháp giới chúng sinh. Giáo lý này đề cao công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và bổn phận hiếu thảo của con cháu, tạo nên điểm tương đồng trực tiếp và là cầu nối giáo lý vững chắc để Phật giáo hòa nhập với đạo lý uống nước nhớ nguồn và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
3. Ba tông phái Phật giáo truyền vào Việt Nam được tích hợp như thế nào?
Phật giáo truyền vào Việt Nam chủ yếu thuộc truyền thống Đại Thừa và dung hợp cả ba tông phái: Thiền Tông (đề cao tự lực, giác ngộ tại tâm, từng phát triển mạnh thời Lý - Trần); Mật Tông (thỏa mãn tâm lý cầu an qua phù chú, ấn quyết, thần chú); và Tịnh Độ Tông (chủ trương niệm danh hiệu Phật A Di Đà để cầu tha lực vãng sinh Tịnh Độ). Khi vào Việt Nam, các tông phái này không tồn tại thuần khiết mà kết hợp nhuần nhuyễn giữa "tự lực" và "tha lực", trong đó Tịnh Độ Tông đóng vai trò chủ đạo trong quần chúng nhân dân.
4. Sự dung hợp thể hiện cụ thể ra sao trong cách bài trí không gian ngôi chùa Bắc tông?
Sự dung hợp thể hiện rõ qua mô hình kiến trúc "tiền Phật hậu Tổ" hoặc "tiền Phật hậu Thánh". Phía trước là chính điện trang nghiêm thờ Phật Tam Thế, Di Đà Tam Tôn; phía sau là nhà Tổ thờ Thánh Tăng A Nan Đà, Đức Tổ Tây Bồ Đề Đạt Ma và các thế hệ sư trụ trì; bên cạnh đó là các gian thờ vong, bài trí dày đặc bài vị, di ảnh, hũ tro cốt của tổ tiên, thân nhân người dân địa phương gửi gắm nơi cửa Phật.
5. Luận án chỉ ra những mặt tiêu cực, bất cập nào nảy sinh từ sự dung hợp trong bối cảnh hiện nay?
Dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, sự dung hợp nảy sinh hiện tượng thương mại hóa nghi lễ tôn giáo (coi nghi lễ như "dịch vụ Phật giáo" thuần túy trao đổi tiền - lễ); lạm dụng đốt vàng mã gây lãng phí; xuất hiện các hoạt động mê tín dị đoan (cúng sao giải hạn nặng tính cầu danh lợi, cắt tiền duyên, phán bói) làm lu mờ giá trị giáo lý nhân quả và tinh thần từ bi, trí tuệ của Phật giáo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phan Nhật Trinh (Thích Nguyên Hạnh) là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Tôn giáo học, phân tích toàn diện sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt giai đoạn 1986 - 2016. Dựa trên khung lý thuyết tiếp biến văn hóa và hệ thống hóa văn hóa, luận án đã làm sáng tỏ các biểu hiện dung hợp trong đời sống tinh thần, nghi lễ tang tế và cấu trúc không gian bài trí tự viện qua khảo sát thực chứng tại các chùa Tào Sách, Bồ Đề và Pháp Vân ở Hà Nội. Công trình đã chỉ ra cả những giá trị đạo đức tích cực lẫn những biến tướng lệch lạc nảy sinh từ nền kinh tế thị trường, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có giá trị khoa học và thực tiễn cho công tác quản lý tôn giáo, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.