Chương 1- Cơ sở lí luận của vấn dé nghiên cứu ¡.Lịch sử vấn dé nghiên cửu 2. Quá trình day học 3 Các biện pháp giúp học sinh yêu thích môn hoá học a)Khai thác các đặc trưng mang tính hấp dẫn của môn học b)Gần nội dung dạy học với thực tế cuộc sống là một trong những biện pháp gây hing thú cho người học c)Giáp học sinh yêu thích môn học bằng nhân cách cao qui của người thầy và mối quan hệ tốt dep thay trò Sit dung hink anh trong day hor bóa hoc ở trường phd thông. EE REE EEE OES Chương II- Thực trang về việc day và học môn hóa ở trường trung học phổ thông. Chương Ul - Các biện pháp giáp học sinh phổ thông yêu thích bộ môn hoá học 11 1 Giúp học sinh yêu thích môn hoc bằng nhân cách cao qui của người thay va mối quan hệ tốt dep thay trò 111.Gdn nội dung dạy học với thực tế cuộc sống, khai thác các đặc trưng mang tính hấp ddn của môn học HH 3Khai thắc các đặc trưng mang tính hấp dẫn của hóa học LH 3.
Sử dụng sơ dé, hình vẽ, tranh ảnh làm cho học sinh yêu thích môn hoá học iit 3.Thí nghiệm hod học vui. ChuonglV- Thực nghiệm su phạm. Luận văn chủ yếu tập trung vào 3 biện pháp chính để giúp học sinh phổ thông yêu thích bộ môn hoá học, nội dung tương đối đầy đủ, súc tích, thể hiện được công sức của tác giả đã bỏ ra để đi tìm hiểu, tổng hợp, chọn lọc một cách sáng tạo. Có thể nói mọi vấn để của để tài nêu ra đều có ý nghĩa với những ai quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học hoá học.
Ở đây em xin đưa ra một số vấn dé gần gũi với để tài của em: > Trong phần cơ sở lý luận tác giả đã cho rằng: sơ đồ. hình vẽ, mô hình là một trong các đặc trưng mang tính hấp dẫn của môn học. tác giả đã đưa ra khá nhiều tác dụng và những chú ý khi sử dụng hình ảnh (trang 13,14), ngoài ra phần gắn kiến thức bài giảng với thực tế cuộc sống (trang 14-16) cũng gợi cho em ý nghĩ phải tìm hình anh, phim để minh hoạ cho những kiến thức thực tế đó để tăng hứng thú cho học sinh. >ởỞ phần thực trạng việc dạy và học môn hoá ở trường THPT: Qua sự điểu tra trên qui mô không lớn lắm nhưng cũng đủ để cho ta thấy được thực trạng là học sinh rất thích giáo viên sử dụng thí nghiệm, hình vẽ trong bài giảng, đồng thời cũng thấy được hầu hết giáo viên, sinh viên đều nhận thức rõ tầm quan trọng to lớn của việc sử dụng hình vẽ nhưng lại ít sử dụng bởi những khó khăn khách quan và chủ quan, từ đó tác giả nêu lên một số biện pháp nhằm khắc phục.
> Trong các biện pháp giúp học sinh yêu thích bộ môn hoá học, ở phần khai thác các đặc thù mang tính hấp dẫn của môn hoá học, tác giả đã sử dụng § hình vẽ cho biện pháp sử dụng sơ đồ, hình vẽ, tranh ảnh làm cho học sinh yêu thích môn hoá học. Sit dung hình ảnh trong day lọc hóa hor ở trường phổ thing > Trong phần gắn kiến thức bài giảng với thực tế cuộc sống, dù tác giả không để cập nhiều đến hình vẽ (do không phải là trọng tâm) nhưng cũng gợi cho em ý nghĩ mới là tìm những hình ảnh, phim vé những nhà hoá học, những ứng dụng .để kết hợp với bài viết của tác giả để tăng sự hứng thú cho học sinh. Tóm lai, đây là một dé tài có giá trị lý luận và thực tiễn cao, có nhiều diéu để em học hỏi, gợi mở cho em thêm một số vấn để để em khai thác tìm hiểu những khía cạnh gần gũi với dé tài của mình. Tóm lại: Có rất nhiều dé tài về sử dung tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ trong day học hóa học.
Các tác giả đã nêu lên tương đổi nhiều tác dụng của hình vẽ. Tác giả đã sưu tam và vẽ được nhiều hình. Tuy vậy theo ý kiến chủ quan của em, những hình vẽ, tranh ảnh đó tuy có đem lại tác dụng nhất định nhưng chưa thực sự hấp dẫn học sinh. Qua các luận văn, chúng ta chưa thấy được tác dụng rõ rệt của việc sử dụng hình ảnh trong thực tếgiảng dạy.
Ngoài ra các tác giả chưa khai thác được nguồn phim ảnh phong phú trên mang internet. Tuy nhiên em đã học hỏi được rất nhiều điều bổ ích qua các đề tài nghiên cứu như: cách trình bày luận văn, phương pháp nghiên cứu, cơ sở lí luận .và đặc biệt nhiễu vấn dé trong dé tài đã gợi mở cho em nhitng ý tưởng hay, những hướng nghiên câu mới mẻ hon. KHÁI NIỆM VA PHAN LOẠI PHƯƠNG TIEN DẠY HOC 5 2. Khái niệm Phương tiện dạy học trên lớp là những đối tượng, 46 vật, vật chất tự nhiên hoặc nhân tạo, có chức năng tạo điểu kiện, hỗ trợ, chuyển tải các hoạt động, quan hệ của giáo viên và người học trên lớp, làm công cụ phục vụ các nhiệm vụ giảng dạy và học tập, thể hiện một cách vật chất những ảnh hưởng sư phạm của nội dung học vấn, của các hoạt động giáo dục và hoạt động của người học, của phương pháp và biện pháp của người học, của các quan hệ sư phạm trên lớp theo những tư tưởng và cách thức nhất định, để những hoạt động này tác động đến người học và hoạt động của họ” [1, tr 278].
Phân loại Dựa theo tính chất công nghệ của quá trình chế tạo và vận hành chúng, Tiến sĩ Đăng Thành Hưng chia làm hai nhóm: Các loại phương tiện thông thường và các loại phương tiên kĩ thuật. Sit bung hình ảnh trong day lọc hóa hor ở trường phd thông 2. Các loại phương tiện thông thường Các loại phương tiện này thường có nguồn gốc tự nhiên hoặc cấu tạo và tính năng kĩ thuật không phức tạp, được tạo ra trực tiếp hoặc tương đối trực tiếp trong lĩnh vực giáo dục. Gồm có các kiểu sau: > Các vật tự nhiên, vật thật, các đối tượng tuy không có nguồn gốc tự nhiên nhưng được coi là nguyên mẫu mà không bị thay đổi gì cả khi đưa vào dạy học Ví dụ: Các mẫu đá, quặng, các mẫu kim loại.
Ngôn ngữ, đặc biệt là lời nói và các nghi thức của lời nói ae Các hành vi giao tiếp và biểu đạt không lời: cử chỉ, điệu bộ, vẻ mặt, phong cách. Vv Các phương tiện làm công cụ giảng dạy và học tập: ` Dung cụ dùng chung: bảng, phấn, giấy bit, bàn thí nghiệm. Dụng cụ cá nhân VV Các phương tiện làm tài liệu giáo khoa kiểu: * Tai liệu in: các loại sách * Tư liệu và tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ. Các phương tiện kĩ thuật Được chế tạo bởi các ngành công nghiệp có tính chất chuyên nghiệp, có cấu tạo, vật liệu và tính năng kĩ thuật phức tạp.
> Các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn và tổ hợp nghe- nhìn, gồm một số kiểu sau: = Máy va băng, đĩa ghi âm, các các thiết bị phát âm., chúng tác động vào thính giác và tri giác của người học- chỉ nhìn bằng mat “Các thiết bi quan sát, máy chiếu ảnh và hình vẽ. Chúng tác động vào thị giác và tri giác thị giác của người học- chỉ nhìn hay quan sát bằng mắt. * May và băng, đĩa hình (video), các loại phim: phim giáo khoa, phim tài liệu, phim hoạt hình, các chương trình truyền hình. chúng tác động đồng thời vào thị giác và tri giác thị giác, thính giác và trị giác thính giác.
Đây là một trong những tổ hợp nghe-nhin, cho phép vừa nghe vừa nhìn. > Các dụng cụ, thiết bị, máy móc kĩ thuật thực hành, thực nghiệm. thí nghiệm GVHD: TS Feinh Oan Biéu Trang 8 SVTH: Jrdn Dinh Watong Sit dung hink ảnh trong day hor hóa hor ở trường phổ thang > Các phương tiện tương tác mạnh có tính năng sư phạm chung, không bó hẹp ở từng môn học, đa chức năng. Đó là máy tính điện tử.
các phẩn mềm day học trên máy vi tinh, các phần mềm sử dụng trên mạng và bản thân các kiểu mạng truyền thông giáo dục. Chúng tạo nên công nghệ tương tác đa phương tiện. TÁC DỤNG CỦA PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 3. Sử dụng phương tiện dạy học là việc làm phù hợp với con đường biện chứng của sự nhận thức Lê-nin đã nêu ra con đường biện chứng của sự nhân thức: * Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức thực tại khách quan." Như vậy việc sử dụng phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình nhận thức, nhờ phương tiện day học, học sinh để nhận thức một cách chủ động vấn để được giáo viên đưa ra.
Và thực tế cũng chứng minh được điều đó qua các nghiên cứu của các nhà khoa học. Theo nhà nghiên cứu Robert J, Mazano thi hoc sinh học được 10% khi đọc, 20% khi nghe, 30% khi nhìn, 50% khi nghe và nhìn, 70% khi trao đổi với bạn, 90% khi giải thích, giảng giải cho người khác. Vậy học sinh sẽ tiếp nhận tri thức tốt khi nhìn hơn nghe và hiệu suất sẽ cao hơn khi kết hợp cả nghe và nhìn. Nếu chỉ nghe giảng, sự tiếp thu kiến thức phụ thuộc vào kinh nghiệm năng khiếu của học sinh và người thay, học sinh sẽ rất khó hình dung các sự vật, hiện tượng mà giáo viên trình bày.
Sử dụng phương tiện dạy học là biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo; phát triển tư duy, kha năng suy luận cho học sinh Các nhà sư phạm thường nói nhiều đến việc tổ chức hoạt động sáng tạo, tích cực của học sinh. Trong diéu kiện các phương tiện dạy học truyền thống thì những biện pháp nhằm tích cực hoá người học chỉ đạt những kết quả nhất định. Dùng phương tiện day học là biện pháp hiệu quả để day học nêu vấn đề, học sinh nhận thức một cách chủ động, sáng tao kiến thức nên hiểu bài sâu sắc, day đủ và nhớ lâu. Đặc biệt, môi trường điện tử sẽ tao môi trường hoạt động cho người học.
Người học sinh là chủ thể của hoạt động GVHD: TS Trink Odu Biéu Trang 9 SVTH: Dean Dinh 20g XS dung hình anh trong day hor hóa hor ở trường phổ thang Ngoài ra, bằng việc sử dụng phương tiện day hoc, giáo viên có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sư hình thành kĩ năng kĩ xảo của học sinh. Sử dụng phương tiện dạy học là một trong những biện pháp gây hứng thú cho người học.