Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, bậc giáo dục tiểu học đóng vai trò nền móng, đặt những viên gạch tri thức đầu tiên cho học sinh. Phân môn Địa lí lớp 4 giữ vị trí quan trọng trong việc cung cấp hệ thống kiến thức thực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hội, bồi dưỡng vốn sống và khơi gợi tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước.

Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại các trường tiểu học cho thấy phần lớn giáo viên tập trung nhiều vào hai môn Toán và Tiếng Việt, trong khi các môn thuộc lĩnh vực Tự nhiên và Xã hội, đặc biệt là Địa lí, ít được chú trọng đúng mức. Việc dạy học phân môn Địa lí ở nhiều nơi còn mang tính đối phó, phương pháp truyền đạt khô khan, nặng về lý thuyết truyền thụ một chiều khiến học sinh thụ động và thiếu hứng thú học tập. Xuất phát từ đặc điểm ngôn ngữ giàu vần điệu, ngắn gọn, dễ nhớ của văn học dân gian và thơ ca, tác giả Trần Thị Hậu thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Tiểu học tại Trường Đại học Quảng Nam với đề tài: "Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 nhằm tạo hứng thú cho học sinh".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca vào quá trình dạy học phân môn Địa lí lớp 4 nhằm tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học sinh tiểu học. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 4 nội dung cụ thể:

  1. Tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong phân môn Địa lí lớp 4.
  2. Điều tra thực trạng dạy học và việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 tại trường tiểu học.
  3. Sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu hệ thống các bài ca dao, tục ngữ, thơ ca có thể tích hợp vào nội dung chương trình Địa lí lớp 4.
  4. Đề xuất các biện pháp và cách thức sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong các hoạt động dạy học cụ thể của phân môn Địa lí lớp 4.

Đối tượng nghiên cứu là việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4. Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học phân môn Địa lí lớp 4. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong chương trình phân môn Địa lí lớp 4 hiện hành, với địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong năm học 2016 - 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên các khái niệm chuyên ngành giáo dục học, tâm lý học lứa tuổi và các phân ngành khoa học liên quan:

  • Khái niệm công cụ: Định nghĩa về Thơ (nghệ thuật ngôn từ có tính thẩm mỹ và cấu trúc logic), Ca dao (sáng tác dân gian diễn tả tình cảm, đời sống), Tục ngữ (tri thức dân gian đúc kết kinh nghiệm sản xuất, đời sống dưới dạng câu ngắn gọn có vần điệu), Địa lí (khoa học liên ngành nghiên cứu Trái Đất và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên), Hứng thú và Hứng thú học tập (thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nhận thức).
  • Cơ sở tâm lý học: Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 bao gồm: tri giác mang tính đại thể và bắt đầu có chủ đích; chú ý có chủ định dần chiếm ưu thế nhưng thời gian tập trung còn hạn chế; tư duy trực quan hành động đang chuyển dần sang tư duy trừu tượng, khái quát; trí nhớ máy móc dần nhường chỗ cho trí nhớ có ý nghĩa và có chọn lọc; ý chí chưa thực sự bền vững.
  • Chương trình phân môn Địa lí lớp 4: Khung chương trình gồm 35 tiết (phân bổ 1 tiết/tuần), bao gồm 1 bài mở đầu về bản đồ, 9 bài về thiên nhiên và con người ở miền núi và trung du, 12 bài về đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, 7 bài về duyên hải miền Trung và vùng biển, cùng 6 bài ôn tập và kiểm tra định kỳ.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các nguồn tài liệu giáo khoa, giáo trình, văn kiện giáo dục và các tư liệu văn học dân gian liên quan đến nội dung địa lí.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp khảo sát điều tra bằng phiếu hỏi: Thực hiện khảo sát 06 giáo viên dạy lớp 4 và 150 học sinh thuộc 4 lớp (4/1, 4/2, 4/3, 4/4) tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Tam Kỳ.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát trực tiếp các tiết dạy Địa lí của giáo viên và nề nếp học tập của học sinh.
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn cán bộ hướng dẫn và các giảng viên khoa Tiểu học – Mầm non.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
    • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, tính toán tỷ lệ phần trăm các số liệu thu thập được từ khảo sát thực trạng và thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vai trò của văn học dân gian trong dạy học liên môn, đồng thời phản ánh bức tranh thực trạng dạy học Địa lí lớp 4 tại địa bàn khảo sát thông qua các số liệu thống kê cụ thể:

Thực trạng từ phía học sinh (khảo sát n = 150):

  • Mức độ hứng thú: Có 16,7% học sinh (25 em) rất thích, 46,7% (70 em) thích, và 36,0% (55 em) không thích học môn Địa lí.
  • Quan điểm về tầm quan trọng của môn học: Chỉ có 15,3% (23 em) coi Địa lí là môn rất quan trọng, 36,0% (54 em) coi là quan trọng, trong khi có tới 48,7% (73 em) đánh giá Địa lí là môn học không quan trọng.
  • Thời gian tự học môn Địa lí: Mức độ thường xuyên đạt 16,7% (25 em), thỉnh thoảng đạt 31,3% (47 em), hiếm khi là 14,7% (22 em), và không bao giờ tự học chiếm 37,3% (56 em).
  • Hoạt động sưu tầm văn học dân gian phục vụ học tập: Chỉ có 8,0% (12 em) thường xuyên sưu tầm ca dao, tục ngữ, thơ ca; 14,7% (22 em) thỉnh thoảng; 16,0% (24 em) hiếm khi; và 61,3% (92 em) không bao giờ thực hiện việc sưu tầm.

Thực trạng từ phía giáo viên (khảo sát n = 6):

  • Khó khăn trong giảng dạy: 66,7% giáo viên (4 người) gặp khó khăn do nguồn thông tin, tài liệu tham khảo hạn chế; 33,3% (2 người) nhận định kiến thức môn học khô khan gây trở ngại khi truyền đạt.
  • Phương pháp dạy học thường dùng: 100% giáo viên thường xuyên dùng phương pháp đàm thoại và quan sát; 66,7% thường xuyên tổ chức thảo luận nhóm; 50% sử dụng phương pháp thực hành; 83,3% thỉnh thoảng sử dụng phương pháp điều tra.
  • Thái độ và mức độ sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca: 50,0% giáo viên (3 người) cho rằng việc tích hợp thơ ca, ca dao vào môn Địa lí là không cần thiết; 33,3% đánh giá bình thường và 16,7% (1 người) cho là cần thiết. Về thực tế áp dụng, 83,3% (5 giáo viên) chưa từng sử dụng và hiện tại 100% không sử dụng. Lý do không thường xuyên sử dụng là lo ngại tốn thời gian (66,7%) và khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu phù hợp (33,3%).
Tiêu chí khảo sát Nhóm đối tượng Kết quả chính Tỷ lệ (%)
Thái độ đối với môn Địa lí Học sinh (n=150) Thích và rất thích / Không thích 63,4% / 36,0%
Đánh giá vị trí môn học Học sinh (n=150) Không quan trọng 48,7%
Tự học và sưu tầm tư liệu Học sinh (n=150) Không bao giờ tự học / Không sưu tầm 37,3% / 61,3%
Trở ngại dạy học Địa lí Giáo viên (n=6) Hạn chế tài liệu / Kiến thức khô khan 66,7% / 33,3%
Quan điểm về tích hợp văn học Giáo viên (n=6) Đánh giá không cần thiết 50,0%
Thực trạng sử dụng tư liệu thơ ca Giáo viên (n=6) Chưa từng sử dụng trong thực tế 83,3%

Chương 2: Một số biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4

Dựa trên mục tiêu chương trình, đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 và kết quả điều tra thực trạng, tác giả xác định 3 nguyên tắc đề xuất: Đảm bảo tính khoa học, chính xác; Đảm bảo tính khả thi, thực tiễn; Đảm bảo tính sư phạm và mục tiêu giáo dục.

Tác giả đề xuất 5 nhóm biện pháp sư phạm cụ thể kèm tư liệu minh họa:

  1. Xác định vị trí phần kiến thức có thể tích hợp:

    • Sử dụng trong phần giới thiệu bài: Sử dụng thơ của Phan Tuấn cho Bài 15 (Thủ đô Hà Nội), thơ của Trung Hưng cho Bài 21 (Thành phố Hồ Chí Minh), thơ Nguyễn Trọng Phú cho Bài 29 (Biển, đảo và quần đảo), câu ca dao "Cần Thơ gạo trắng nước trong / Ai đi đến đó lòng không muốn về" cho Bài 22 (Thành phố Cần Thơ).
    • Sử dụng trong phần giảng bài mới: Trích câu ca dao về làng nghề khoáng sản và thủ công xứ Quảng cho Bài 25; ca dao về cảnh sắc Nha Trang cho Bài 26; thơ Đỗ Phú Quý về vựa hoa trái, thủy sản miền Tây cho Bài 19; thơ Nguyệt Lặng về sông Sê-rê-pốc và thác Đray-nu, Đray-sáp cho Bài 8 (Tây Nguyên).
    • Sử dụng trong phần củng cố kiến thức: Sử dụng thơ Tản Đà ("Hải Vân đèo lớn vượt qua / Mùa xuân ai bỗng hóa ra nắng hè") để củng cố bài khí hậu duyên hải miền Trung (Bài 24); thơ Phạm Hải Đăng củng cố địa danh du lịch Huế (Bài 27).
  2. Khai thác nội dung bài học chuyên sâu:

    • Dùng ca dao cấy cày giải thích sự vất vả của hoạt động nông nghiệp (Bài 13).
    • Dùng thơ Nguyễn Đức Hạnh (Thái Nguyên) minh họa công nghiệp luyện kim và vùng chè trung du (Bài 4).
    • Dùng thơ Nguyễn Trọng Phú phân tích đường bờ biển dài 3.260 km hình chữ S và tiềm năng dầu khí thềm lục địa (Bài 29).
    • Dùng thơ Tế Hanh khắc họa vùng đất đỏ bazan và 4 tỉnh Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Đồng (Bài 5).
    • Dùng thơ Trần Thiên và Đỗ Phú Quý giới thiệu khí hậu, cảnh quan đồi thông, thác nước và ngàn hoa Đà Lạt (Bài 9).
    • Dùng tục ngữ "Ba ngày gió Nam, mùa màng mất trắng" giải thích hiện tượng thời tiết cực đoan miền Trung (Bài 24).
  3. Xác định mức độ tích hợp phù hợp:

    • Phân định rõ hai hình thức: Tích hợp toàn phần (dùng văn học làm phương tiện chính giải quyết mục tiêu bài học) và Tích hợp bộ phận (dùng văn học làm công cụ kích thích hứng thú, minh chứng hiện tượng).
    • Tác giả lập bảng danh mục phân phối tích hợp bộ phận cho toàn bộ 35 bài học trong phân môn Địa lí lớp 4.
  4. Hướng dẫn quy trình vận dụng vào các hình thức hoạt động dạy học:

    • Hoạt động thảo luận nhóm: Vận dụng giải thích ranh giới khí hậu đèo Hải Vân (Bài 24), phân loại làng nghề truyền thống qua bảng phụ (Bài 25), ghép nối địa danh danh thắng Đà Nẵng qua thơ Thu Hoài (Bài 28).
    • Hoạt động hỏi - đáp: Đặt hệ thống câu hỏi khai thác tiềm năng du lịch biển Nha Trang (Bài 26), nhận diện đặc điểm địa hình đất đỏ Tây Nguyên qua thơ Tế Hanh (Bài 5).
    • Hoạt động quan sát kết hợp tư liệu: Kết hợp tranh ảnh cảnh quan với thơ miêu tả Đà Lạt (Bài 9); kết hợp video tư liệu bão lũ với đoạn thơ của Phạm Công Phúc để phân tích tác động tiêu cực của thiên tai tại duyên hải miền Trung (Bài 24).
  5. Thiết kế giáo án thực nghiệm mẫu:

    • Soạn thảo chi tiết tiến trình dạy học hoàn chỉnh cho Bài 24 (Dải đồng bằng duyên hải miền Trung) và Bài 4 (Trung du Bắc Bộ) có lồng ghép hệ thống phiếu học tập, câu hỏi gợi mở từ ngữ liệu ca dao, tục ngữ và thơ ca.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày quy trình và kết quả tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi:

  • Mục đích thực nghiệm: Kiểm nghiệm tính khả thi, tính sư phạm và hiệu quả của các biện pháp vận dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca đã đề xuất trong việc tạo hứng thú và nâng cao mức độ tiếp thu kiến thức Địa lí lớp 4.
  • Nội dung và tiêu chí: Lựa chọn bài thực nghiệm dựa trên các tiêu chí về tính đại diện của bài học địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội (triển khai trực tiếp trên Bài 24 và Bài 4).
  • Quy trình tiến hành: Chuẩn bị kế hoạch bài dạy có tích hợp văn học dân gian, chuẩn bị thiết bị dạy học, phiếu học tập; bố trí dạy học tại các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tương đương về trình độ; tiến hành kiểm tra, đo lường thái độ hứng thú, khả năng hiểu bài và kỹ năng sưu tầm tư liệu của học sinh sau tiết học.
  • Đánh giá kết quả: Phân tích các tiêu chí thông qua bảng biểu số liệu (Bảng 3.2 đến 3.5 và các biểu đồ liên quan), chứng minh sự chuyển biến tích cực về sự tập trung, tính tích cực tham gia thảo luận và mức độ ghi nhớ bài học của lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu thực tiễn và đóng góp chuyên môn:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn: Khóa luận làm rõ cơ sở tâm lý học lứa tuổi học sinh lớp 4 và nguyên tắc dạy học liên môn Tự nhiên - Xã hội với Văn học; cung cấp số liệu khảo sát định lượng chi tiết về thực trạng dạy học Địa lí tại trường tiểu học (với 36% học sinh không thích môn học, 48,7% coi là môn phụ, 83,3% giáo viên chưa từng tích hợp tư liệu văn học).
  • Xây dựng nguồn học liệu địa lí hóa văn học: Khóa luận sưu tầm, phân loại và giới thiệu một hệ thống phong phú các câu ca dao, tục ngữ, đoạn thơ phản ánh chính xác các đặc trưng địa hình, khí hậu, tài nguyên, địa danh và hoạt động sản xuất trải dài từ Bắc Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung đến Nam Bộ và Biển đảo.
  • Quy trình hóa biện pháp giảng dạy: Đề xuất 5 biện pháp sư phạm rõ ràng, thiết lập bảng chỉ dẫn mức độ tích hợp bộ phận cho toàn bộ chương trình Địa lí lớp 4, đồng thời xây dựng hoàn chỉnh giáo án thực nghiệm mẫu có tính ứng dụng cao.
  • Đóng góp mới so với nghiên cứu trước: Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các sáng kiến kinh nghiệm trước đây về tích hợp ca dao, tục ngữ mới chỉ tập trung ở cấp THCS và THPT (trong các môn Sinh học, Lịch sử, GDCD, Địa lí lớp 10, lớp 12). Đề tài này là một trong những công trình tiên phong nghiên cứu áp dụng chuyên sâu giải pháp tích hợp ca dao, tục ngữ, thơ ca cho phân môn Địa lí ở cấp Tiểu học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm của đề tài chỉ mới được tiến hành trong phạm vi một trường tiểu học (Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) trên cỡ mẫu 6 giáo viên và 150 học sinh thuộc khối lớp 4; chưa mở rộng khảo sát ở các trường thuộc vùng nông thôn, miền núi có điều kiện học tập khác biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc tuyển chọn ngữ liệu ca dao, tục ngữ, văn học dân gian cho toàn bộ chương trình phân môn Lịch sử và Địa lí ở các khối lớp khác ở tiểu học (như lớp 5); nghiên cứu mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm trên nhiều địa bàn trường học khác nhau để hoàn thiện cẩm nang hướng dẫn giảng dạy tích hợp liên môn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Tham khảo phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, cách thức xây dựng phiếu điều tra thực trạng, thiết kế tiến trình thực nghiệm sư phạm và kỹ năng soạn giáo án tích hợp liên môn.
  • Giáo viên tiểu học đang giảng dạy phân môn Địa lí lớp 4: Khai thác trực tiếp hệ thống ngữ liệu ca dao, tục ngữ, thơ ca đã được tác giả chọn lọc tương ứng theo từng bài học (đặc biệt là mục 2.3 và 2.5 của Chương 2) để đổi mới phương pháp giới thiệu bài, đặt câu hỏi đàm thoại, tổ chức hoạt động nhóm và củng cố kiến thức.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng trong khóa luận cho thấy thái độ của học sinh lớp 4 đối với môn Địa lí như thế nào?
Kết quả khảo sát 150 học sinh khối 4 tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi cho thấy: 16,7% học sinh rất thích, 46,7% thích, nhưng có tới 36% học sinh không thích môn Địa lí. Đáng chú ý, có 48,7% học sinh đánh giá Địa lí là môn học không quan trọng, 37,3% không bao giờ dành thời gian tự học môn này và 61,3% không bao giờ sưu tầm ca dao, tục ngữ phục vụ học tập.

2. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên tiểu học gặp phải khi dạy Địa lí lớp 4 theo khảo sát là gì?
Theo kết quả phiếu hỏi 6 giáo viên, 66,7% giáo viên gặp khó khăn do nguồn thông tin và tài liệu tham khảo còn hạn chế; 33,3% giáo viên cho biết kiến thức môn học mang tính trừu tượng, khô khan gây trở ngại trong việc truyền đạt tạo hứng thú cho học sinh.

3. Tại sao tác giả đề xuất áp dụng mức độ "tích hợp bộ phận" thay vì "tích hợp toàn phần" cho phân môn Địa lí lớp 4?
Tác giả lựa chọn mức độ tích hợp bộ phận vì phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 (hoạt động phân tích, tổng hợp còn ở mức sơ đẳng) và mục tiêu chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình tiểu học. Tích hợp bộ phận sử dụng ca dao, thơ ca như một công cụ hỗ trợ để gợi mở, kích thích hứng thú hoặc minh chứng cho hiện tượng địa lí mà không làm quá tải nội dung bài học.

4. Khóa luận sử dụng ngữ liệu thơ ca nào để giảng dạy về đặc điểm khí hậu vùng duyên hải miền Trung trong Bài 24?
Trong Bài 24 (Dải đồng bằng duyên hải miền Trung), tác giả sử dụng hai câu thơ của thi sĩ Tản Đà: "Hải Vân đèo lớn vượt qua, / Mưa xuân ai bỗng hóa ra nắng hè" để học sinh thảo luận nhóm giải thích sự khác biệt khí hậu giữa hai miền Nam - Bắc dãy Bạch Mã; đồng thời sử dụng câu tục ngữ "Ba ngày gió Nam, mùa màng mất trắng" và đoạn thơ của tác giả Phạm Công Phúc để minh họa tính chất khắc nghiệt của bão lũ, hạn hán ở miền Trung.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hậu đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề nâng cao hứng thú học tập phân môn Địa lí lớp 4 thông qua việc tích hợp ca dao, tục ngữ và thơ ca dân tộc. Trên cơ sở làm rõ căn cứ lý luận, tâm lý lứa tuổi và thực trạng khảo sát tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, đề tài đã đề xuất 5 nhóm biện pháp sư phạm cụ thể cùng hệ thống tư liệu giảng dạy chọn lọc. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính khả thi của phương pháp dạy học liên môn, góp phần giảm tính khô khan của môn học và nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện ở bậc tiểu học.