Luận văn thạc sĩ ussh sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị trong văn học việt nam những thập niên đầu tiên của thế kỷ xx

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị trong văn học việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Phạm vi, đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài

0.3.1. Phạm vi nghiên cứu

0.3.2. Đối tượng nghiên cứu

0.3.3. Phương pháp nghiên cứu

0.3.4. Đóng góp của luận văn

0.3.5. Bố cục của luận văn

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lý do chọn đề tài

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG ĐỀ TÀI

1. CHƯƠNG 1: TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỦA THƠ TRÀO PHÚNG VIỆT NAM TRƯỚC THẾ KỶ XX

1.1. Thơ trào phúng – Sự khác nhau cơ bản giữa thơ trào phúng với thơ trữ tình

1.1.1. Thơ trào phúng

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG – NGHỆ THUẬT

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT, NHỮNG ĐẶNG GẶP CÓ Ý NGHĨA SÂU SẮC CỦA BỘ PHẬN THƠ TRÀO PHÚNG CHÍNH TRỊ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐỐI VỚI NỀN VĂN HỌC DÂN TỘC

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sự Đổi Mới Phong Cách Thơ Trào Phúng Chính Trị

Sự đổi mới phong cách thơ trào phúng chính trị trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là một hiện tượng văn học quan trọng. Thơ trào phúng không chỉ phản ánh thực trạng xã hội mà còn thể hiện những tư tưởng, quan điểm chính trị của tác giả. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của thể loại thơ này, từ những tiếng cười nhẹ nhàng đến những phê phán sắc bén đối với chế độ thực dân và phong kiến.

1.1. Đặc Điểm Của Thơ Trào Phúng Trong Văn Học Việt Nam

Thơ trào phúng Việt Nam mang những đặc điểm riêng biệt, thể hiện qua ngôn ngữ, hình thức và nội dung. Nó sử dụng tiếng cười như một công cụ để phê phán xã hội, đồng thời phản ánh tâm tư của nhân dân trước những bất công, áp bức.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Của Thơ Trào Phúng Chính Trị

Trước thế kỷ XX, thơ trào phúng chủ yếu mang tính chất nhẹ nhàng, ít đả kích. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XX, với sự xuất hiện của nhiều tác giả mới, thể loại này đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, trở thành một vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống lại áp bức.

II. Những Thách Thức Đối Với Thơ Trào Phúng Chính Trị Đầu Thế Kỷ XX

Trong bối cảnh xã hội đầy biến động, thơ trào phúng chính trị phải đối mặt với nhiều thách thức. Những tác giả phải tìm cách vượt qua những rào cản về tư tưởng và chính trị để có thể truyền tải thông điệp của mình một cách hiệu quả.

2.1. Rào Cản Tư Tưởng Trong Văn Học

Nhiều tác giả phải đối mặt với sự kiểm duyệt gắt gao từ chính quyền thực dân. Điều này khiến cho việc sáng tác thơ trào phúng trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi sự khéo léo trong cách thể hiện.

2.2. Sự Phản Kháng Của Các Tác Giả

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, nhưng các tác giả vẫn tìm cách thể hiện quan điểm của mình thông qua những hình thức nghệ thuật độc đáo. Họ sử dụng sự châm biếm, mỉa mai để phản ánh thực trạng xã hội.

III. Phương Pháp Đổi Mới Trong Thơ Trào Phúng Chính Trị

Để thích ứng với bối cảnh mới, các tác giả đã áp dụng nhiều phương pháp đổi mới trong sáng tác thơ trào phúng. Những phương pháp này không chỉ giúp tăng tính hấp dẫn mà còn nâng cao hiệu quả phê phán của tác phẩm.

3.1. Sử Dụng Ngôn Ngữ Độc Đáo

Ngôn ngữ trong thơ trào phúng được sử dụng một cách sáng tạo, với nhiều hình thức chơi chữ, so sánh và phóng đại. Điều này giúp tạo ra những hình ảnh sinh động và dễ nhớ cho người đọc.

3.2. Kết Hợp Giữa Nghệ Thuật Và Chính Trị

Nhiều tác phẩm thơ trào phúng không chỉ đơn thuần là tiếng cười mà còn chứa đựng những thông điệp chính trị sâu sắc. Sự kết hợp này giúp tác phẩm có sức lan tỏa lớn hơn trong xã hội.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Thơ Trào Phúng Chính Trị

Thơ trào phúng chính trị không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc phản ánh và phê phán xã hội. Những tác phẩm này đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề xã hội và chính trị.

4.1. Tác Động Đến Nhận Thức Cộng Đồng

Thơ trào phúng đã giúp người dân nhận thức rõ hơn về những bất công trong xã hội, từ đó tạo ra những phong trào đấu tranh mạnh mẽ hơn.

4.2. Góp Phần Vào Cuộc Đấu Tranh Chống Thực Dân

Nhiều tác phẩm thơ trào phúng đã trở thành nguồn động viên tinh thần cho các phong trào yêu nước, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh của nhân dân.

V. Kết Luận Về Sự Đổi Mới Phong Cách Thơ Trào Phúng Chính Trị

Sự đổi mới phong cách thơ trào phúng chính trị trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng. Nó không chỉ phản ánh sự chuyển mình của văn học mà còn thể hiện tinh thần đấu tranh của nhân dân trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

5.1. Tương Lai Của Thơ Trào Phúng Chính Trị

Với những giá trị nghệ thuật và chính trị mà nó mang lại, thơ trào phúng chính trị sẽ tiếp tục có vai trò quan trọng trong văn học Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Di Sản Văn Hóa Của Thơ Trào Phúng

Di sản văn hóa từ thơ trào phúng chính trị không chỉ là những tác phẩm mà còn là những tư tưởng, quan điểm sống còn giá trị cho các thế hệ sau này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị trong văn học việt nam những thập niên đầu tiên của thế kỷ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho những tràng cười giòn giã tiếp theo trong thơ Tú Xương, Kép Trà, Phan §iện, Từ Diễn Đồng… khi thực tại ngày càng nảy sinh nhiều kẻ mượn danh Phật để kiếm lợi. Đặc biệt hơn, ngoài giá trị nhân đạo sâu sắc, thơ bà lên tiếng bênh vực cho quyền sống, quyền hạnh phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, nhiều bài thơ của bà còn có ý nghĩa phê phán những thói đời giả dối, bịp bợm nhân cách đạo đức mọi hạng người trong xã hội, kể cả bọn vua chúa, sư s·i, trÝ thức rởm phong kiến. Giọng điệu, cách thể hiện của Xuân Hương rất gần với thơ ca dân gian ở sự bình dị, mộc mạc nhưng sâu sắc qua những hình ảnh ẩn dụ, mang ý nghĩa biểu tượng. Bài thơ: “VÞnh cái quạt”, với việc nhấn mạnh hành vi “Chúa dấu vua yêu một cái này” phê phán thói đạo đức giả của vua, chúa phong kiến.

bà cốt” §¶ kích bọn sư sãi, giả danh vô đạo đức… 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) và Cao Bá Quát (1809 - 1854) một người chuyên thơ Nôm, một người chuyên chữ Hán, vốn xưa nay không được coi là nhà thơ trào phúng. Song qua tìm hiểu thơ văn của hai ông, đặc biệt qua tập “Thơ văn Nguyễn Công Trứ ” ( NXB văn học Hà Nội năm 1983), lại thấy có tới 60 bài mang sắc thái trào phúng trên tổng số 108 bài, nội dung trµo phúng đa dạng, phong phú như: Tự trào: 12/60; châm biếm thói đời: 16/60, giễu cợt quan niệm sống của nhà nho 20/60, cười cợt tạo hóa 5/60, chơi chữ hài hước: 5/60…. TrÇn ThÞ Hoa Lª) Qua khảo sát trên ta thấy Nguyễn Công Trứ đặc biệt hứng thú trong việc trào phúng “thói đời đen bạc” cũng như thế lực đồng tiền và đặc biệt quan niệm sống bó buộc của nhà nho. Bµi h¸t nãi “ VÞnh ®ång tiÒn” cã thÓ coi lµ tiªu biÓu cho phong c¸ch trµo phóng NguyÔn C«ng Trø bëi giäng ®iÖu hµi h-íc phãng tóng, l¹i còng rÊt mØa mai r¸t mÆt.

H«i tanh ch¼ng thó vÞ g× ThÕ mµ ai còng kÎ v× ng-êi yªu T¹o vËt bÊt thÞ v« ®Ó sù Bßn chµi ra mét thø quÊy ch¬i §ñ vu«ng, trßn, t-îng ®Êt, t-îng trêi Kh¼m ho¹, phóc, yªn nguy, tö ho¹t. Trong th¬ ch÷ H¸n Cao B¸ Qu¸t còng cã tíi 32 bµi trµo phóng víi tæng sè 156 bµi, bao gåm nhiÒu néi dung trµo phóng nh- : tù trµo 17/32, ch©m biÕm chÝnh trÞ 8/32, nh×n ®êi ng¹o nghÔ 4/32 , con mắt hµi h­íc 5/32 … Ngoµi ra cßn NghÌ T©n (NguyÔn Quý T©n 1811- 1856) víi t¸c phÈm : “ Tuý tiªn thi tËp” ch-a ®-îc s-u tÇm, hiÖn cßn l-u l¹i mét sè bµi th¬ N«m trµo phóng ®-îc gi¸o s- Vò Ngäc Kh¸nh s­u tÇm vµ in trong tËp “ Th¬ v¨n trµo phóng ViÖt Nam”. Nh×n chung, v¨n häc giai ®o¹n nµy cµng ngµy cµng thiªn vÒ ý phóng thÝch x· héi, c-êi nh¹o nh÷ng sù trí trªu cña ng-êi ®êi, cña cuéc m-u sinh hoÆc cña nÒn chÝnh trÞ suy tho¸i. NghÖ thuËt trµo phóng nghiªng vÒ tiÕng c-êi hµi h-íc mØa mai, lèi nãi bãng giã, ch-a ®Õn møc ch©m biÕm trùc tiÕp gay g¾t.

Giäng ®iÖu m¹nh mÏ vµ t¸o b¹o cã ë hai t¸c gi¶ Hå Xu©n H-¬ng vµ NguyÔn 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com C«ng Trø. Còng cã thÓ do quan niÖm v¨n ch-¬ng nhµ nho coi träng tÝnh tr÷ t×nh, ®iÓn nh· cña th¬ ca. Th¬ trµo phóng trung ®¹i ViÖt Nam xuÊt hiÖn muén mµng, ph¸t triÓn chËm ch¹p, kh«ng cã ¶nh h-ëng s©u réng trong c«ng chóng nh- th¬ ca trµo phóng d©n gian. Song kh«ng thÓ phñ nhËn gÝa trÞ cña nh÷ng nÐt c-êi ph¶ng phÊt ®©y ®ã ®· Èn hiÖn trong th¬ ch÷ H¸n vµ ch÷ N«m c¸c thÕ kØ XIV, XVI … vµ tiÕng c-êi râ nÐt tõ thÕ kØ XVIII lµm nªn tiÒn ®Ò thiÕt yÕu cho dßng th¬ trµo phóng ph¸t triÓn lín m¹nh, ®¹t thµnh tùu rùc rì khi xuÊt hiÖn nh÷ng yÕu tè x· héi ®Æc biÖt vµo nöa sau thÕ kØ XX.TiÒn ®Ò xã hội Cuối thế kỷ XIX, tình hình xã hội có ý nghĩa biến đổi căn bản, từ nhiều góc độ: Kinh tế, chính trị, văn hóa cũng như tín ngưỡng.

Nó gắn liền với những bước thăng trầm của triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng; Thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng, bán nước làm tay sai cho thực dân Pháp, những biến động âm Ø trong lòng đất nước trên con đường chuyển từ chế độ trung đại Phương Đông sang hình thái xã hội chịu sức ép chính trị và ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây. Xã hội Việt Nam từng bước tư sản hóa, quá trình đô thị hóa phát triển, hình thành các đô thị dẫn đến sự ra đời của nhiều tầng lớp xã hội trong đó có trí thức tư sản, tiểu tư sản. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nho thất thế, cũng như các nhà nho gặp thời, cùng với toàn xã hội đã lần đầu tiên tiếp xúc với một luồng gió mới theo chân người Pháp đến luồng gió vừa văn minh, vừa cÆn bã “Văn minh” du nhập qua con đường “Tân thơ”, còn “Cặn bã” chính là hậu quả của chính sách khai thác thuộc địa ngày càng tàn khốc, dã man của chế độ thực dân. Các tầng lớp mới với đời sống đô thị hóa cũng hoàn toàn mới lạ, đương nhiên nảy sinh những tâm lý xã hội khác trước, lối sống, thói quen, quan niệm cũng khác trước, không phù hợp với truyền thống.

Xã hội Việt Nam trải qua một cuộc đổi thay tận gốc rễ và không thuận chiều. Các nhà nho từng thể nghiệm trí lực của đất nước trước nạn đụng độ “tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ” nay lại chứng kiến nền Hán học cổ truyền bị ép chết với lối ch-íng tai gai mắt phô bày một cách lố lăng, kệch cỡm. Đặc biệt, việc chính quyền mới chấm dứt việc thi chữ Hán ở 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bắc Kỳ vào năm 1915 và ở Trung Kỳ 1919 đã đặt tầng lớp nhà nho trước tình trạng “cáo chung”. Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo chưa vì thế mà chấm dứt ngay, bởi cả thế hệ nhà nho còn sống đến mấy thập niên sau đó của thế kỷ XX.

Bên cạnh đó, tư tưởng Tây học đã hình thành và chiếm ưu thế trong xã hội. Mâu thuẫn bùng phát ở nhiều phương diện: ở tầng lớp cũ – mới, giữa các luồng tư tưởng, nền văn hóa. Những hiện tượng “dựa gió bẻ măng”, “đục nước, béo cò”, nhố nhăng, điên đảo, mất đạo lý, tình người… Tất cả khiến nhà nho bất bình, tìm đến vũ khí duy nhất còn lại trong tay họ là tiếng cười. Tiếng cười bật lên nhằm từ chối thực tế phũ phàng, chối bỏ thực trạng bế tắc, tự trấn an tinh thần, chống lại việc đồng hóa - mua chuộc của các thế lực đến từ hoặc theo chân Phương Tây, cứu vớt truyền thống.

Cơ cấu giai tầng phân hóa, cũ mới đan xen, xáo trộn, dẫn đến sự biến đổi trong nhân sinh quan, quan niệm sáng tác và đội ngũ tác giả cũng như độc giả thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Trên đây là những tiền đề xã hội - văn hóa ở bề sâu tư tưởng làm nở rộ tiếng cười cña thơ trào phúng chính trị đầu thế kỷ XX. Cũng còn phải kể đến một số điều kiện xã hội cụ thể ở phương diện hình thức. Ảnh hưởng to lớn, đáng kể đó là thành tựu báo chí những năm đầu của thế kỷ XX.

Một loạt các tòa soạn báo, tạp chí xuất hiện nối tiếp từ Nam ra Bắc. Trung Kỳ có “Tiếng dân”, Bắc kỳ phong phú hơn cả với các báo Đại Nam (Đăng cổ tùng báo); Ngày nay, Phong Hóa, Tiểu thuyết thứ bảy, Đông Pháp thời báo, các tạp chí Đông Dương, Nam Phong, An Nam, Tri Tân, Thanh Nghị… Mục đích chính trị cũng như giá trị ảnh hưởng của các báo và tạp chí có thể khác nhau, song tất cả có điểm chung là thực hiện vai trò “kết nối” giữa thơ ca trào phúng với độc giả, vai trò “tuyên truyền cổ động” này ở các thế kỷ trước ch-a có. “Nam Phong T¹p ChÝ” là cơ quan xuất bản đầu tiên phát hành rộng rãi trong công chúng những tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương, mà trước đó mới chỉ lưu hành quanh hai vùng Yên §æ, Vị Xuyên. Rồi liên tiếp suốt 30 số tạp chí trong vòng 14 năm (1918 - 1932) trên mục Văn uyển, Nam Phong đã giới thiệu cho chúng ta khoảng 120 tác giả với hơn 400 bài thơ trào phúng.

19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói tóm lại, ở phương diện xã hội – văn hóa, đây là thời kỳ tập trung nhiều mâu thuẫn, các mâu thuẫn đều lên tới đỉnh điểm mà chưa có hướng giải quyết tạo nên những nghịch lý trên nhiều phương diện của đời sèng chính trị, văn hóa, xã hội. Tiếng cười châm biếm cất lên từ giới trí thức cho đến giới bình dân trở thành một thứ vũ khí đắc lực, phương thuốc hữu hiệu chống lại cái ác, cái xấu. Diện mạo thơ trào phúng chính trị Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX Việc thực dân Pháp xâm lược, chiếm nước ta, áp đặt chế độ thống trị thực dân, uy hiếp vận mệnh đất nước và đời sống nhân dân, tác động sâu sắc đến mọi tầng lớp xã hội và do đó gây một chuyển biến quan trọng trong văn học nước ta từ 1858. Đất nước từ độc lập trë thành nô lệ, từ thời bình sang thời chiến.

Điều đó thấy rõ trong cả văn học thành văn, văn học dân gian. Bàn về lịch sử văn học, theo PGS.TS Trần Ngọc Vương là: “Vạch ra sự vận động, sự chuyển biến, sự phát triển của một đối tượng là văn học; bàn về văn học thì phải căn cứ vào tác phẩm, vào đời sống văn học, liên quan đến nó là tác giả, là thể loại, là nội dung, hình thức, là thị hiếu công chúng, là môi trường…”. Bên cạnh văn học yêu nước quan hệ trực tiếp với cuộc đấu tranh dân tộc, với đời sống chính trị, xã hội nên ta dễ thấy 3 chặng đường của lịch sử đấu tranh cho độc lập dân tộc. - Văn học yêu nước của v¨n thân Cần Vương.

- Văn học yêu nước cña các chí sĩ Duy Tân. - Văn học yêu nước chịu ảnh hưởng tư tưởng Cộng sản và Đảng cộng sản. thì văn học trào phúng ra đời cùng các tên tuổi chói loà trang văn học như: Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế (1858- 191), Kép Trà (1873- 1928), Phan Điện (1874-1945), Tõ DiÔn Đồng (1866- 1922) cũng là hiện tượng mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sự Đổi Mới Phong Cách Thơ Trào Phúng Chính Trị Trong Văn Học Việt Nam Đầu Thế Kỷ XX" khám phá sự phát triển và biến đổi của thể loại thơ trào phúng trong bối cảnh chính trị và xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phong cách thơ, từ đó làm nổi bật vai trò của thơ trào phúng trong việc phản ánh và chỉ trích các vấn đề xã hội, chính trị của thời kỳ này. Độc giả sẽ nhận thấy rằng thơ trào phúng không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một công cụ mạnh mẽ để thể hiện tiếng nói của nhân dân, góp phần vào việc hình thành tư tưởng và nhận thức xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ ussh đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết việt nam giai đoạn 1975 1985, nơi phân tích các tác phẩm văn học phản ánh chiến tranh và những tác động của nó đến xã hội. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề thân phận người phụ nữ trong văn học việt nam cuối thế kỷ xviii đầu thế kỷ xix qua một số tác phẩm tiêu biểu cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của người phụ nữ trong văn học, một chủ đề có liên quan đến các vấn đề xã hội mà thơ trào phúng thường đề cập. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ussh tạp chí phong hóa từ năm 1932 đến năm 1936 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh văn hóa và xã hội trong thời kỳ này, từ đó làm phong phú thêm kiến thức về văn học Việt Nam.