Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái và hàng kém chất lượng diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng, làm suy giảm uy tín của doanh nghiệp sản xuất chân chính và xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Theo số liệu báo cáo của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (Bộ Công an) được tác giả trích dẫn, từ năm 2012 đến năm 2022, lực lượng Cảnh sát kinh tế trên toàn quốc đã phát hiện, xử lý 9.716 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả với 11.071 đối tượng; trong đó đã khởi tố 3.186 vụ với 4.401 bị can, xử lý hành chính 6.036 đối tượng, chuyển các lực lượng khác xử lý 349 vụ với 534 đối tượng, tổng giá trị hàng hóa bị thu giữ ước tính trên 338 tỷ đồng.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với các cam kết nghiêm ngặt về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời có đường biên giới giáp ranh và quan hệ thương mại lớn với Trung Quốc – một trung tâm sản xuất quy mô lớn toàn cầu – việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về hàng giả đặt ra nhiều thách thức mới. Do cả hai quốc gia đều thuộc hệ thống pháp luật thành văn (Civil Law) và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu so sánh quy định pháp luật hình sự giữa hai nước là yêu cầu cấp thiết nhằm rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích, so sánh các quy định pháp luật hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam. Để đạt được mục đích đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam, làm rõ khái niệm, phân loại hàng giả, các dấu hiệu pháp lý, khung hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng.
- Nghiên cứu, phân tích khái niệm, dấu hiệu pháp lý, hệ thống hình phạt và các tình tiết định khung tăng nặng trong pháp luật hình sự Trung Quốc về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
- Đánh giá, so sánh điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả giữa BLHS Việt Nam và BLHS Trung Quốc.
- Rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc điều chỉnh hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ luật hình sự so sánh, tập trung vào các văn bản thực định hiện hành: Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Phương pháp luận chủ đạo là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Về hệ thống văn bản pháp luật, nghiên cứu khai thác và đối chiếu các văn bản pháp lý của Việt Nam qua các thời kỳ: Pháp lệnh Trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/04/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/08/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Dược năm 2016, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Về phía pháp luật Trung Quốc, nghiên cứu sử dụng BLHS Trung Quốc năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) và Luật Chất lượng sản phẩm của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1993.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp nghiên cứu lịch sử lập pháp, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp logic pháp lý, phương pháp so sánh luật học và phương pháp điều tra xã hội học.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm báo cáo tổng kết thực tiễn của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (Bộ Công an); hệ thống giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; các sách bình luận khoa học BLHS; cùng các công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học tiêu biểu như công trình của Trần Ngọc Vinh (2001), Phạm Tài Tuệ (2018), Nguyễn Thị Tô Uyên (2014), Nguyễn Thu Thương (2017).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Chương này tập trung làm sáng tỏ bản chất pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi làm ra, mua đi bán lại hàng giả do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, làm mất ổn định thị trường và xâm hại lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Tác giả phân tích 4 đặc điểm pháp lý cơ bản của tội danh theo Điều 192 BLHS:
- Tính chất bao quát: Điều 192 là tội danh chung, áp dụng đối với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả không thuộc các trường hợp đặc thù quy định tại Điều 193 (lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), Điều 194 (thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 195 (thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi) và Điều 202 (tem giả, vé giả).
- Phân loại hàng giả: Đối tượng tác động của tội phạm gồm 3 nhóm: hàng giả về nội dung (chỉ tiêu chất lượng, hàm lượng kỹ thuật dưới 70% so với quy chuẩn/tiêu chuẩn công bố); hàng giả về hình thức (giả mạo nhãn hiệu, bao bì, tên thương nhân, chỉ dẫn nguồn gốc, chỉ dẫn xuất xứ); hàng giả về cả nội dung và hình thức.
- Giá bán hàng hóa: Tội danh thành lập không phụ thuộc vào việc người phạm tội bán bằng giá hàng thật để lừa dối hay bán với giá rẻ mà người mua vẫn biết là hàng giả.
- Căn cứ xác định: Bắt buộc phải có hàng thật đã đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền để đối chiếu và phải có kết luận giám định tư pháp của cơ quan chuyên môn.
Phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 192:
- Khách thể: Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa; xâm hại quyền lợi người tiêu dùng và quyền sở hữu công nghiệp của các chủ thể kinh doanh hợp pháp.
- Mặt khách quan: Gồm hành vi sản xuất (chế tạo, gia công, chiết xuất, pha trộn, đóng gói...) hoặc hành vi buôn bán (chào hàng, bày bán, lưu giữ, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu...). Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu định tội bắt buộc, được lượng hóa cụ thể: hàng giả có giá trị từ 20 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng (theo giá bán/hóa đơn), hoặc tương đương hàng thật từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng (khi không xác định được giá bán), hoặc dưới mức này nhưng đã bị xử phạt hành chính/có án tích chưa xóa, hoặc gây thương tích cho sức khỏe người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, hoặc gây thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
- Chủ thể: Cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS) và pháp nhân thương mại (Điều 76 BLHS).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp), động cơ vụ lợi.
Đường lối xử lý theo Điều 192 BLHS quy định:
- Đối với cá nhân: Khung 1 (phạt tiền từ 100 triệu đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm); Khung 2 (phạt tù từ 5 năm đến 10 năm với các tình tiết định khung như có tổ chức, tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm chết người, thu lợi bất chính từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng, buôn bán qua biên giới); Khung 3 (phạt tù từ 7 năm đến 15 năm khi hàng giả có giá thành sản xuất từ 100 triệu đồng trở lên, giá bán từ 200 triệu đồng trở lên, thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên, làm chết 2 người trở lên, thiệt hại tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên). Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 20 triệu đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ/hành nghề từ 1 đến 5 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Đối với pháp nhân thương mại: Phạt tiền từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng (tương ứng Khoản 1); từ 3 tỷ đến 6 tỷ đồng (tương ứng Khoản 2); từ 6 tỷ đến 9 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm (tương ứng Khoản 3); đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (theo Điều 79 BLHS). Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh/huy động vốn từ 1 đến 3 năm.
Chương 2: So sánh quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong luật hình sự Việt Nam và luật hình sự Trung Quốc
Chương 2 phân tích quy định của BLHS Trung Quốc năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) từ Điều 140 đến Điều 150 (Mục 1, Chương III - Nhóm tội xâm phạm trật tự kinh tế thị trường XHCN). Điều 140 là quy định nền tảng điều chỉnh hành vi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giả, sản phẩm kém chất lượng.
Mặt khách quan của tội phạm theo Điều 140 BLHS Trung Quốc bao gồm 4 nhóm hành vi:
- Pha trộn, trộn lẫn tạp chất vào sản phẩm làm giảm hoặc mất đi công năng vốn có.
- Giả mạo sản phẩm giả thành sản phẩm chính hãng (hàng thật).
- Giả mạo sản phẩm kém chất lượng thành sản phẩm tốt (dùng sản phẩm thứ cấp, linh kiện lỗi, phế phẩm mạo nhận là sản phẩm cao cấp).
- Giả mạo sản phẩm không đạt tiêu chuẩn thành sản phẩm đủ tiêu chuẩn (không đáp ứng tiêu chuẩn bắt buộc theo Điều 36 Khoản 2 Luật Chất lượng sản phẩm Trung Quốc).
Đường lối xử lý theo Điều 140 BLHS Trung Quốc căn cứ hoàn toàn vào "số tiền bán hàng" (doanh số bán ra tính bằng tổng thu nhập bất hợp pháp không trừ chi phí, có áp dụng nguyên tắc cộng dồn doanh số qua nhiều lần vi phạm chưa bị xử lý):
- Doanh số từ 50.000 đến dưới 200.000 Nhân dân tệ (NDT): Phạt tù có thời hạn không quá 2 năm hoặc phạt giam hình sự, đồng thời hoặc chỉ bị phạt tiền từ 50% đến 2 lần doanh số bán hàng.
- Doanh số từ 200.000 đến dưới 500.000 NDT: Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, phạt tiền từ 50% đến 2 lần doanh số bán hàng.
- Doanh số từ 500.000 đến dưới 2.000.000 NDT: Phạt tù từ 7 năm trở lên, phạt tiền từ 50% đến 2 lần doanh số bán hàng.
- Doanh số từ 2.000.000 NDT trở lên: Phạt tù 15 năm hoặc tù chung thân, đồng thời phạt tiền từ 50% đến 2 lần doanh số bán hàng hoặc tịch thu tài sản.
Đối với pháp nhân: Điều 150 BLHS Trung Quốc quy định phạt tiền đối với đơn vị vi phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm hình sự trực tiếp đối với người phụ trách và các cá nhân liên quan trực tiếp theo mức hình phạt tương ứng của cá nhân.
| Tiêu chí so sánh |
Bộ luật Hình sự Việt Nam (Điều 192) |
Bộ luật Hình sự Trung Quốc (Điều 140, 150) |
| Kỹ thuật lập pháp |
Có tên điều luật cụ thể cho từng tội danh; tách bạch giữa tội chung và các tội đặc thù (Điều 193, 194, 195). |
Không đặt tên riêng cho điều luật; quy định tội danh chung và các tội danh chuyên biệt từ Điều 140 đến 148. |
| Phân loại đối tượng |
Đồng nhất hàng kém chất lượng có chỉ tiêu dưới 70% là một dạng hàng giả về nội dung. |
Phân biệt rõ ràng giữa "sản phẩm giả" (mạo danh, giả nhãn mác) và "sản phẩm kém chất lượng" (không đạt chuẩn chất lượng). |
| Hành vi khách quan |
Quy định 2 nhóm hành vi: sản xuất và buôn bán hàng giả. |
Liệt kê 4 nhóm hành vi cụ thể: pha trộn; giả thành thật; kém thành tốt; không đạt tiêu chuẩn thành đủ tiêu chuẩn. |
| Căn cứ định lượng định tội/định khung |
Kết hợp nhiều yếu tố: Giá trị hàng giả, giá trị tương đương hàng thật, số tiền thu lợi bất chính, hậu quả thương tích và thiệt hại tài sản. |
Căn cứ chủ yếu vào "số tiền bán hàng" (doanh số thực tế thu được) và có cơ chế cộng dồn doanh số qua các lần vi phạm. |
| Hình phạt cao nhất (Cá nhân) |
Phạt tù có thời hạn đến 15 năm. |
Phạt tù chung thân và tịch thu toàn bộ tài sản. |
| Quy định đối với pháp nhân |
Quy định khung phạt riêng trực tiếp trong cùng Điều 192 (phạt tiền đến 9 tỷ đồng, đình chỉ vĩnh viễn). |
Quy định chế tài phạt tiền đơn vị tại Điều 150 và xử lý hình sự đối với cá nhân quản lý trực tiếp. |
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Tác giả chỉ ra 3 nhóm hạn chế, bất cập lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam:
- Thiếu định nghĩa pháp lý chính thức về "hàng giả" và "tội sản xuất, buôn bán hàng giả" ngay trong BLHS. Khái niệm hiện nay chủ yếu dựa vào văn bản xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 98/2020/NĐ-CP), tạo ra khoảng trống pháp lý và dễ gây nhầm lẫn với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS).
- Tồn tại nhiều thuật ngữ mang tính định tính hoặc chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất, như: "hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng", "buôn bán qua biên giới", "có tính chất chuyên nghiệp", "hàng giả tương đương với số lượng hàng thật".
- Xung đột và vướng mắc trong kỹ thuật định lượng thiệt hại tài sản, việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành và quy trình xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
Về bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc: Trung Quốc đã xây dựng được sự đồng bộ chặt chẽ giữa luật chuyên ngành và luật hình sự. Luật Chất lượng sản phẩm Trung Quốc năm 1993 quy định chi tiết tại các Điều 5, Điều 13, Điều 26 và Điều 27 về các nghĩa vụ pháp lý, tiêu chuẩn an toàn bắt buộc, quy chuẩn ghi nhãn hàng hóa và trách nhiệm pháp lý khi vi phạm, tạo tiền đề vững chắc cho việc định tội danh trong hình sự.
Kiến nghị hoàn thiện BLHS Việt Nam: Tác giả kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới luật (Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc Thông tư liên tịch) hướng dẫn áp dụng Điều 192 BLHS. Trong đó, cần chính thức luật hóa khái niệm hàng giả trong lĩnh vực hình sự dựa trên việc kế thừa và hoàn thiện các tiêu chí của Nghị định 98/2020/NĐ-CP, đồng thời hướng dẫn chi tiết các tiêu chí định lượng giá trị hàng hóa và quy định rõ cơ chế cộng dồn quy mô vi phạm tương tự mô hình của Trung Quốc.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện các kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn:
- Hệ thống hóa các số liệu đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả giai đoạn 2012–2022 của Bộ Công an, làm nổi bật khoảng cách giữa số vụ phát hiện (9.716 vụ) với số vụ bị xử lý hình sự (3.186 vụ), cho thấy tỷ lệ xử lý hành chính còn chiếm tỷ trọng lớn (6.036 đối tượng).
- Làm rõ cấu trúc các khung hình phạt tại Điều 192 BLHS Việt Nam (tù từ 1 đến 15 năm đối với cá nhân, phạt tiền từ 1 tỷ đến 9 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động đối với pháp nhân thương mại) và chỉ ra sự chênh lệch so với mức hình phạt nghiêm khắc tại Điều 140 BLHS Trung Quốc (tù có thời hạn đến tù chung thân).
- Đề xuất giải pháp bổ sung văn bản giải thích áp dụng pháp luật để định nghĩa rõ 3 nhóm hàng giả (giả về nội dung, giả về hình thức, giả về cả nội dung và hình thức) và chuẩn hóa các tình tiết định khung tăng nặng còn vướng mắc.
Đóng góp mới của khóa luận so với các công trình trước đây là việc đặt tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả của BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) vào thế đối chiếu, so sánh trực tiếp, toàn diện với hệ thống quy định tương ứng của BLHS Trung Quốc năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) và Luật Chất lượng sản phẩm Trung Quốc, từ đó rút ra các bài học lập pháp có giá trị thực tiễn cho Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được triển khai tập trung dưới góc độ nghiên cứu so sánh luật thực định giữa hai hệ thống pháp luật Việt Nam và Trung Quốc, chưa đi sâu phân tích toàn diện các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm cụ thể đã tuyên tại tòa án hai nước.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở là mở rộng phạm vi luật so sánh đối với quy định về tội phạm hàng giả của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Common Law) hoặc các quốc gia trong khu vực ASEAN, đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát hàng giả trong môi trường thương mại điện tử xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự, Luật kinh tế và Luật so sánh. Nội dung khóa luận cung cấp các luận cứ khoa học hữu ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) trong việc nhận diện dấu hiệu pháp lý và giải quyết các vướng mắc định tội danh theo Điều 192 BLHS. Đồng thời, các phân tích so sánh kỹ thuật lập pháp tại Chương 2 và Chương 3 có giá trị tham khảo đối với các cơ quan lập pháp trong quá trình rà soát, sửa đổi và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Hàng giả được phân loại thành những nhóm nào theo phân tích của khóa luận?
Khóa luận phân loại hàng giả thành 3 nhóm: (1) Hàng giả về nội dung (hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc chỉ tiêu chất lượng, hàm lượng chất chính chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn công bố); (2) Hàng giả về hình thức (giả mạo nhãn hiệu, bao bì, tên thương nhân, mã vạch, nguồn gốc xuất xứ); (3) Hàng giả về cả nội dung và hình thức (vừa không có giá trị sử dụng, vừa giả mạo nhãn mác, chỉ dẫn thương mại).
2. Mức hình phạt cao nhất đối với cá nhân phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong BLHS Việt Nam và BLHS Trung Quốc khác nhau như thế nào?
Theo Điều 192 BLHS Việt Nam, mức hình phạt tù cao nhất áp dụng đối với cá nhân phạm tội là 15 năm tù (Khoản 3). Trong khi đó, theo Điều 140 BLHS Trung Quốc, nếu doanh số bán hàng giả vượt quá 2 triệu NDT, người phạm tội có thể bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là tù chung thân, đồng thời bị phạt tiền từ 50% đến 2 lần doanh số bán hàng hoặc tịch thu tài sản.
3. Pháp luật hình sự Trung Quốc sử dụng tiêu chí nào làm căn cứ chủ yếu để định khung hình phạt cho tội danh này?
Điều 140 BLHS Trung Quốc căn cứ hoàn toàn vào "số tiền bán hàng" (tổng thu nhập bán hàng giả thực tế thu được) chia thành 4 bậc: từ 50.000 đến dưới 200.000 NDT; từ 200.000 đến dưới 500.000 NDT; từ 500.000 đến dưới 2 triệu NDT; và trên 2 triệu NDT. Nếu hành vi phạm tội thực hiện nhiều lần mà chưa qua xử lý thì doanh số bán hàng sẽ được tính cộng dồn.
4. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả được hai nước quy định như thế nào?
BLHS Việt Nam quy định trực tiếp khung hình phạt cho pháp nhân thương mại tại Khoản 5 Điều 192 với mức phạt tiền từ 1 tỷ đến 9 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn (6 tháng đến 3 năm) hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngược lại, Điều 150 BLHS Trung Quốc quy định đơn vị vi phạm bị phạt tiền, đồng thời người trực tiếp phụ trách và người chịu trách nhiệm trực tiếp khác trong đơn vị sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân theo các khung hình phạt tương ứng tại Điều 140 đến Điều 148.
5. Vướng mắc lớn nhất trong quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về tội danh này được tác giả chỉ ra là gì?
Vướng mắc lớn nhất là BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sử dụng thuật ngữ "hàng giả" trong tên gọi và cấu thành của Điều 192 nhưng không đưa ra định nghĩa pháp lý cụ thể về hàng giả mà phải dẫn chiếu sang văn bản xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 98/2020/NĐ-CP), dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật khi tiến hành tố tụng hình sự.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Nguyễn Hải Anh đã luận giải có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thông qua phương pháp so sánh luật học đối với quy định của BLHS Trung Quốc năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) và Luật Chất lượng sản phẩm Trung Quốc, công trình đã làm nổi bật các điểm tương đồng và khác biệt cốt lõi về kỹ thuật lập pháp, căn cứ định lượng và cơ chế chế tài giữa hai quốc gia. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất có giá trị thực tiễn, góp phần tháo gỡ vướng mắc trong áp dụng pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về hàng giả tại Việt Nam.