Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thành phố Hải Phòng là đô thị loại I trực thuộc Trung ương, trung tâm cảng biển lớn nhất miền Bắc và giữ vị trí đầu mối giao thông quan trọng kết nối vùng duyên hải Bắc Bộ với các tuyến hàng hải quốc tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch, địa phương này phải đối mặt với nhiều hiện tượng xã hội phức tạp như sự phân hóa giàu nghèo, lối sống thực dụng và sự suy thoái đạo đức của một bộ phận dân cư. Sau giai đoạn đại dịch Covid-19, tình trạng thất nghiệp, khó khăn tài chính và áp lực phá sản gia tăng, tạo môi trường cho các loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu phát sinh, trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, lợi dụng các kẽ hở pháp lý và giao dịch dân sự, kinh tế để che giấu hành vi phạm tội.
Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 với nhiều điểm mới nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm, việc nhận thức và áp dụng các quy định này trong thực tiễn tư pháp tại Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng vẫn gặp không ít vướng mắc. Những bất cập trong việc phân định ranh giới giữa quan hệ hình sự và dân sự, xác định thủ đoạn gian dối, mục đích chiếm đoạt, cũng như việc lượng hóa một số tình tiết định tính đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng định tội danh và quyết định hình phạt.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử loại tội phạm này tại Hải Phòng giai đoạn 2019–2023, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Đánh giá thực trạng áp dụng những quy định của pháp luật đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tiễn xét xử qua các vụ án tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2019–2023; trên cơ sở đó phân tích những vướng mắc, bất cập còn tồn tại trên thực tế và nguyên nhân của những vướng mắc đó.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng điều luật này trong công tác định tội danh, quyết định hình phạt tại thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, đề tài tập trung vào các dấu hiệu pháp lý dưới góc độ khoa học luật hình sự; về không gian, nghiên cứu giới hạn trên địa bàn thành phố Hải Phòng; về thời gian, khảo cứu thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 5 năm từ ngày 30/12/2019 đến ngày 30/12/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận của công trình dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm xâm phạm sở hữu. Về phương diện pháp lý, khóa luận nghiên cứu hệ thống quy phạm pháp luật thực định gồm Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với trọng tâm là Điều 174, Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 12 (tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 21 (tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự), các điều luật liên quan đến đồng phạm, tái phạm và quyết định hình phạt; đối chiếu với Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 139) và các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ sở hữu và giao dịch tài sản. Khóa luận cũng tham chiếu Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự, đồng thời so sánh quy định pháp luật hình sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Điều 266 BLHS Trung Quốc).
Về tài liệu khoa học, tác giả tiếp thu các công trình nghiên cứu chuyên khảo, giáo trình luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Trường Đại học Huế; các bình luận khoa học của GS.TS. Võ Khánh Vinh, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, TS. Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng, ThS. Đinh Văn Quế; các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ về tội phạm xâm phạm sở hữu của các tác giả Nguyễn Ngọc Chi (2001), Lê Đăng Doanh (2008), Dương Thị Ngọc Thủy (2008), Ngô Thị Hạnh (2016), Đặng Thị Thanh Huyền (2016), Nguyễn Thu Hoài (2021), Lê Lương Toàn (2022).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể theo từng phần:
- Trong Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phương pháp diễn dịch, quy nạp và phương pháp luật học so sánh để làm rõ bản chất lý luận, các yếu tố cấu thành tội phạm và phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội danh tương tự trong pháp luật hình sự Việt Nam và một số quốc gia.
- Trong Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp thống kê tư pháp, tổng kết thực tiễn xét xử, điều tra hồ sơ án và phân tích so sánh để xử lý dữ liệu xét xử thực tế tại thành phố Hải Phòng; kết hợp phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm để xây dựng các giải pháp hoàn thiện lập pháp và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ báo cáo thống kê xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2019–2023, cùng các bản án hình sự sơ thẩm cụ thể như: Bản án số 156 ngày 31/07/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; Bản án số 39 ngày 23/03/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; Bản án số 103 ngày 11/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên; Bản án số 89 ngày 08/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Dương; Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 29/06/2023 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng; Bản án số 431/HS-ST ngày 30/09/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa từ Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, Từ điển Tiếng Việt và các giáo trình luật học, đưa ra định nghĩa: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bản chất của tội danh này được phân tích qua bốn yếu tố cấu thành tội phạm:
- Chủ thể: Là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội phạm này. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản do điều luật này không nằm trong danh mục liệt kê tại khoản 2 Điều 12.
- Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản (quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) của Nhà nước, tổ chức hoặc công dân, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Đối tượng tác động là tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản) có tính chất dịch chuyển được; không bao gồm các loại tài sản đặc biệt như ma túy, vũ khí quân dụng, khoáng sản, tài nguyên rừng (được bảo vệ bởi các tội danh độc lập khác). Tội danh này không xâm hại trực tiếp đến khách thể nhân thân (tính mạng, sức khỏe).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp. Về mặt lý trí, người phạm tội nhận thức rõ hành vi gian dối là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả làm mất quyền tài sản của người khác; về mặt ý chí, mong muốn hậu quả chiếm đoạt xảy ra. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc và luôn có trước thời điểm thực hiện hành vi gian dối và chiếm đoạt. Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu định tội nhưng có ý nghĩa khi quyết định hình phạt.
- Mặt khách quan: Gồm hai hành vi gắn kết chặt chẽ: hành vi dùng thủ đoạn gian dối (cung cấp thông tin sai sự thật qua lời nói, giấy tờ, danh nghĩa) và hành vi chiếm đoạt tài sản (chuyển dịch tài sản bất hợp pháp). Hành vi gian dối là tiền đề, nguyên nhân trực tiếp khiến chủ tài sản nhầm lẫn mà tự nguyện giao tài sản; hành vi chiếm đoạt là kết quả và mục đích cuối cùng. Hậu quả là thiệt hại về tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt; đã bị kết án về tội xâm phạm sở hữu chưa được xóa án tích; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Chương 1 cũng phân tích các khung hình phạt tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm 4 khung hình phạt chính (từ cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến tù chung thân) và 1 khung hình phạt bổ sung (phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản). Tác giả tiến hành phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (dựa trên thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt), tội lừa dối khách hàng (Điều 198) và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355).
Đồng thời, chương này so sánh với pháp luật quốc tế, tiêu biểu là Điều 266 Bộ luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. So sánh cho thấy pháp luật Trung Quốc chia rõ hai nhóm đối tượng sở hữu (tài sản công và tài sản tư), không đặt tên tội danh riêng biệt, sử dụng các dấu hiệu định tính về quy mô giá trị ("số lượng tương đối lớn", "số lượng lớn", "số lượng đặc biệt lớn"), có ít khung hình phạt và ít tình tiết tăng nặng hơn so với sự phân hóa cụ thể trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015.
Chương 2: Thực tiễn xét xử và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hải Phòng
Tác giả phân tích đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của Hải Phòng với vai trò trung tâm kinh tế biển, nơi tập trung nhiều dự án đầu tư và hoạt động giao thương. Sự bùng nổ của dịch vụ và công nghệ thông tin đã làm phát sinh nhiều hình thức lừa đảo mới như lừa đảo qua mạng xã hội, chiếm đoạt quyền sử dụng đất, giả mạo cán bộ cơ quan nhà nước, huy động vốn và thương mại điện tử.
Thực tiễn định tội danh giai đoạn 2019–2023 tại Tòa án nhân dân các cấp thành phố Hải Phòng được tổng hợp qua số liệu xét xử đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
| Năm |
Nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (Số vụ) |
Nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt (Số bị cáo) |
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Số vụ) |
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Số bị cáo) |
Tỷ lệ bị cáo tội lừa đảo so với tổng số bị cáo (%) |
| 2019 |
1.234 |
3.124 |
152 |
175 |
5,6% |
| 2020 |
1.421 |
2.263 |
166 |
190 |
8,4% |
| 2021 |
1.672 |
2.321 |
100 |
134 |
5,8% |
| 2022 |
1.217 |
2.651 |
159 |
187 |
7,1% |
| 2023 |
1.985 |
2.921 |
165 |
200 |
6,8% |
| Tổng |
7.529 |
13.280 |
742 |
886 |
6,7% |
(Nguồn: Thống kê tổng hợp từ Tòa án nhân dân các cấp thành phố Hải Phòng)
Số liệu cho thấy trong 5 năm, Tòa án nhân dân các cấp thành phố Hải Phòng đã xét xử 742 vụ án với 886 bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trung bình mỗi năm thụ lý xét xử 148 vụ và 177 bị cáo. Loại tội phạm này chiếm 9,9% tổng số vụ án và 6,7% tổng số bị cáo thuộc nhóm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Năm 2021, do ảnh hưởng của giãn cách xã hội vì dịch bệnh Covid-19, số vụ giảm xuống còn 100 vụ với 134 bị cáo. Tuy nhiên, sang năm 2022 và 2023, số lượng vụ án gia tăng trở lại (năm 2022 tăng 59 vụ, năm 2023 tăng 65 vụ so với năm 2021, tương ứng tỷ lệ tăng 65% về số vụ).
Về thực tiễn quyết định hình phạt, việc áp dụng các mức phạt đối với 886 bị cáo trong giai đoạn 2019–2023 được thể hiện cụ thể:
| Năm |
Tổng số vụ xét xử |
Tổng số bị cáo |
Cải tạo không giam giữ hoặc tù dưới 3 năm |
Tù từ trên 3 năm đến 7 năm |
Tù từ trên 7 năm đến 15 năm |
Tù từ trên 15 năm đến 20 năm |
Tù chung thân |
| 2019 |
152 |
175 |
25 |
8 |
24 |
95 |
23 |
| 2020 |
166 |
190 |
38 |
16 |
35 |
87 |
14 |
| 2021 |
100 |
134 |
30 |
8 |
49 |
45 |
2 |
| 2022 |
159 |
187 |
60 |
24 |
21 |
69 |
13 |
| 2023 |
165 |
200 |
64 |
15 |
22 |
89 |
10 |
| Tổng |
742 |
886 |
217 |
71 |
151 |
385 |
62 |
(Nguồn: Thống kê tổng hợp từ Tòa án nhân dân các cấp thành phố Hải Phòng)
Cơ cấu hình phạt áp dụng cho thấy mức hình phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với 385 bị cáo (43,45%), tiếp theo là mức cải tạo không giam giữ hoặc tù dưới 3 năm với 217 bị cáo (24,49%). Đáng chú ý, số bị cáo bị áp dụng hình phạt tù chung thân là 62 bị cáo, chiếm tỷ lệ 7,0% trên tổng số bị cáo bị xét xử, xuất phát từ các vụ án chiếm đoạt số tiền lớn (hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng) nhưng không có khả năng khắc phục hậu quả tài chính.
Bên cạnh các kết quả đạt được, tác giả chỉ ra các hạn chế và vướng mắc thực tiễn:
- Khó khăn trong việc xác định ý thức chiếm đoạt và phân định ranh giới giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với quan hệ tranh chấp dân sự. Tác giả dẫn chứng Bản án hình sự sơ thẩm số 431/HS-ST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử bị cáo Nguyễn Thị O về hành vi vay 200.000.000 đồng của bà Vũ Thị H. Tác giả phân tích việc Tòa án kết án O phạm tội lừa đảo là chưa thỏa đáng, bởi O thực tế vay tiền để kinh doanh da giày và ban đầu đã trả lãi đầy đủ. Việc nhờ bố chồng ký giả chữ ký của chồng vào hợp đồng thế chấp thực chất chỉ phát sinh ở khoản vay thêm 50.000.000 đồng (sau khi đã vay 150.000.000 đồng trước đó), việc O chuyển nơi cư trú bắt nguồn từ mâu thuẫn ly hôn và đi làm ăn trả nợ chứ không có mục đích chiếm đoạt ngay từ đầu.
- Bất cập từ quy định pháp luật: Thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể về các tình tiết định tính tại Điều 174 như: "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ". Hơn nữa, tình tiết định khung "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" (điểm b khoản 2 Điều 174) trước đây được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, nhưng nghị quyết này đã hết hiệu lực và chưa có văn bản thay thế, gây lúng túng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi xác định số lần phạm tội và nguồn sống chính.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và ghi nhận những đóng góp cụ thể:
- Về kết quả thực nghiệm: Hệ thống hóa toàn diện bức tranh xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Hải Phòng giai đoạn 2019–2023 với dữ liệu xác thực gồm 742 vụ án và 886 bị cáo; xác định tỷ lệ áp dụng các khung hình phạt, chỉ ra tỷ lệ áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc (khung 15–20 năm chiếm 43,45% và tù chung thân chiếm 7,0%).
- Đóng góp khoa học và phân tích thực tiễn: Làm rõ cơ sở lý luận của cấu thành tội phạm theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015; phát hiện các điểm sai lệch trong đánh giá chứng cứ qua các bản án cụ thể (như vụ án Nguyễn Thị O), từ đó phân định ranh giới giữa hành vi phạm tội hình sự và vi phạm nghĩa vụ dân sự trong vay mượn tài sản.
- Các giải pháp và kiến nghị đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật hình sự: Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn thi hành Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, giải thích rõ các tình tiết "tài sản là phương tiện kiếm sống chính", "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" và ban hành hướng dẫn mới thay thế Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP về tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp".
- Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại Hải Phòng: Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán về kỹ năng thu thập chứng cứ điện tử và nhận diện thủ đoạn gian dối công nghệ cao; thắt chặt quy trình phối hợp liên ngành giữa Công an, Viện kiểm sát và Tòa án; đẩy mạnh công tác tuyên truyền phương thức phạm tội để nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản của người dân.
So với các công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu về tội lừa đảo trong hoàn thuế GTGT tại Lạng Sơn của Nguyễn Thị Kim Dung năm 2007; nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học của Lê Đăng Doanh năm 2008; hoặc nghiên cứu số liệu Đà Nẵng của Ngô Thị Hạnh năm 2016), khóa luận của Ngọc Thị Huyền đi sâu trực tiếp vào cả hai phương diện: cấu thành tội phạm lý luận theo luật thực định 2015 và thực tiễn xét xử định tội danh, lượng hình trên địa bàn đặc thù thành phố Hải Phòng trong giai đoạn biến động kinh tế - xã hội sau đại dịch Covid-19 (2019–2023).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các giới hạn nghiên cứu được xác định theo phạm vi đề tài:
- Về phạm vi không gian và thời gian: Đề tài chỉ khảo sát số liệu xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong mốc thời gian 5 năm (2019–2023), chưa mở rộng so sánh tương quan với các địa phương có quy mô cảng biển hoặc trung tâm đô thị tương đương như Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh hay Đà Nẵng.
- Về nội dung chuyên sâu: Công trình tập trung vào góc độ luật hình sự (định tội danh và quyết định hình phạt), chưa đi sâu phân tích toàn diện khía cạnh tội phạm học (nguyên nhân, điều kiện phạm tội chi tiết) hoặc khía cạnh tố tụng hình sự (hoạt động điều tra, truy tố kỹ thuật số).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng pháp luật khi có các văn bản hướng dẫn mới của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; mở rộng nghiên cứu các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng và ứng dụng công nghệ cao trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự: Tài liệu cung cấp phương pháp luận phân tích cấu thành tội phạm, cách tiếp cận so sánh luật quốc tế và kỹ năng phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác.
- Đối với các nhà nghiên cứu: Cung cấp hệ thống dữ liệu thống kê tư pháp chi tiết tại địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2019–2023 thông qua Bảng 2.1 và Bảng 2.2, hỗ trợ đối chiếu thực tiễn xét xử giữa các giai đoạn trước và sau đại dịch Covid-19.
- Đối với cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán): Nội dung phân tích các bản án thực tế (như Bản án số 59/2023/HS-ST, Bản án số 431/HS-ST) cung cấp góc nhìn thực tiễn về việc xác định ý chí chiếm đoạt, đánh giá chứng cứ chữ ký giả và tránh xu hướng hình sự hóa các quan hệ tranh chấp dân sự, kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong nhóm tội xâm phạm sở hữu tại Hải Phòng giai đoạn 2019–2023 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2019–2023, Tòa án nhân dân các cấp tại Hải Phòng đã xét xử 742 vụ án với 886 bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chiếm 9,9% tổng số vụ án và 6,7% tổng số bị cáo thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn.
2. Mức hình phạt nào được áp dụng nhiều nhất đối với các bị cáo phạm tội lừa đảo tại Hải Phòng theo thống kê của khóa luận?
Mức hình phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 385/886 bị cáo (tương đương 43,45%). Mức tù chung thân được áp dụng đối với 62 bị cáo (chiếm tỷ lệ 7,0%), chủ yếu do giá trị tài sản chiếm đoạt đặc biệt lớn nhưng khả năng bồi thường, khắc phục hậu quả rất thấp.
3. Vướng mắc pháp lý lớn nhất liên quan đến tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" được khóa luận chỉ ra là gì?
Tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" tại điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 trước đây áp dụng theo hướng dẫn tại tiểu mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP. Tuy nhiên, văn bản này đã hết hiệu lực nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành nghị quyết mới thay thế, gây khó khăn cho Tòa án trong việc xác định tiêu chí "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính".
4. Tại sao tác giả cho rằng việc kết án bị cáo Nguyễn Thị O phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Bản án số 431/HS-ST là chưa đủ căn cứ?
Theo phân tích của tác giả, bị cáo Nguyễn Thị O vay tiền có mục đích kinh doanh xưởng giày thực tế và đã trả lãi đúng thỏa thuận trong thời gian đầu. Khoản tiền 200.000.000 đồng là do nhiều lần vay gộp lại (đã vay 150.000.000 đồng trước đó), việc nhờ người ký giả chữ ký của chồng chỉ phát sinh ở khoản vay thêm 50.000.000 đồng cuối cùng theo yêu cầu của chủ nợ. Bị cáo chuyển nơi ở do mâu thuẫn ly hôn chứ không nhằm mục đích bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu, do đó bản chất vụ việc là quan hệ tranh chấp dân sự.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Ngọc Thị Huyền đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về cấu thành pháp lý và hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông qua hệ thống số liệu xét xử 742 vụ án với 886 bị cáo tại Tòa án nhân dân các cấp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2019–2023, công trình phản ánh khách quan bức tranh áp dụng pháp luật và chỉ ra những hạn chế trong việc lượng hóa tình tiết định tính, định tội danh và quyết định hình phạt. Các giải pháp hoàn thiện lập pháp và nâng cao năng lực áp dụng pháp luật do tác giả đề xuất xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn tư pháp, góp phần phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và hoạt động xét xử loại tội phạm này.