Chương 1: Các khía cạnh kinh tế, xã hội của hoạt động cho vay lãi nặng và pháp luật điều chỉnh 1. Khái quát về hiện tượng CVLN từ khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp luật hiện nay điều chỉnh, phòng chống hiện tượng này 1. Các khái niệm về cho vay Ngày nay, để phát triển tình hình kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất của ngƣời dân, thì việc đầu tƣ từ nguồn vốn để phát triển kinh tế, đồng thời tìm kiếm nguồn vốn, tài chính để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Với nguồn tài chính dồi dào nhằm để hổ trợ, giúp đỡ cho ngƣời khác và tăng nguồn thu nhập cho bản thân, nhiều cá nhân, tổ chức đã tiến hành lấy nguồn vốn của mình cho các chủ thể khác vay, mƣợn để sinh hoạt và sản xuất.
Để hiểu rõ thuật ngữ cho vay, ngƣời viết đƣa ra một số khái niệm của pháp luật Việt Nam về thuật ngữ cho vay nhƣ sau: Theo quy định của Luật dân sự: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản c ng loại theo đúng số lƣợng, chất lƣợng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định 1.Còn theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi 2. Ngoài ra, theo từ điển luật học thì cho vay đƣợc hiểu là: Bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật c ng loại để làm sở hữu trong thời hạn hoặc các bên đã thỏa thuận. Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi, ngƣời vay chỉ phải trã lãi nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Theo từ điển tiếng Việt thì cho vay đƣợc khái niệm nhƣ sau: Đƣa tiền cho vay trong một thời hạn nhất định rồi trả cả vốn lẫn t suất lại.
Theo từ điển tƣởng giải và liên tƣởng thì khái niệm cho vay là tạm cho ngƣời khác sử dụng một khoảng tiền hoặc vật dụng và s đƣợc hoàn lại theo thỏa thuận. 1 Điều 463 BLDS năm 2015 2 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 123doc 7 Từ hai quy định trên của pháp luật và thực tiễn xã hội, từ điển việt nam ngƣời viết đƣa ra khái niệm về cho vay nhƣ sau: cho vay là việc cho người khác (người vay) sử dụng tài s n thuộc sở h u c a m nh (người cho vay) trong một thời gian ác định sau khi sử dụng ong người vay ph i hoàn tr s tài s n g c đó cho bên người cho vay và một kho n lãi suất theo s th a thuậnc a hai bên (người cho vay và người vay) 1. Khái niệm tội phạm CVLN Kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt cuộc sống ngày càng tăng cao; một số đối tƣợng, tổ chức đã lợi dụng vào hoàn cảnh khó khăn, cấp thiết của ngƣời khác để cho vay và thu lại lãi suất rất cao, làm cho ngƣời đi vay gặp nhiều khó khăn,vì phải trả lãi suất cao. Mặt khác, trong xã hội c ng có không ít ngƣời vì ham chơi, đua đòi, háo thắng, sa vào các tệ nạn xã hội, nhƣ cờ bạc, số đề, ma túy, cá độ bóng đá thua thiệt trầm trọng phải cầm cố nhà cửa, ruộng vƣờn, đất đai để s n sàng vay lãi suất cao để rồi lâm vào cảnh nợ nầng chồng chất, không khả năng thanh toán.
Một số đối tƣợng xấu đã lợi dụng hoàn cảnh này để “lách luật” cho vay lãi cao, khi ngƣời vay hết khả năng trả nợ thì ép buộc ngƣời vay chuyển nhƣợng quyền sử dụng nhà, đất; một số đối tƣợng lợi dụng sơ hở, sự thiếu hiểu biết của ngƣời đi vay, bằng những thủ đoạn tinh vi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng nhà, đất về tay mình, đến khi xảy ra tranh chấp thì giấy tờ chuyển nhƣợng hợp pháp đã thể hiện đủ, làm cho cơ quan bảo vệ pháp luật không có chứng cứ nào để bảo vệ quyền lợi của ngƣời đi thay. CVLN là hành vi cho ngƣời khác vay tiền với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mƣời lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột. Tội cho vay lãi nặnglà tội phạm đã đƣợc quy định đầu tiên tại Điều 171 BLHS năm 1985, do câu chữ của điều luật chƣa rõ ràng nên đã làm cho việc xác định hành vi đó có phải tội phạm hay không gặp nhiều khó khăn, hầu nhƣ không có trƣờng hợp nào bị xử lý hình sự đƣợc mặc d tình trạng cho vay lãi nặng diễn ra khá phổ biến và phức tạp, làm ảnh hƣởng không nhỏ đến trật tự, an toàn xã hội. Thấy đƣợc sự bất hợp lý của quy định đó nên các nhà làm luật khi soạn thảo đã sửa đổi tính bất hợp lý đó và đã đƣợc Quốc hội thông qua BLHS năm 1999, điều luật đã quy định cụ thể về hành vi cho vay lãi nặng hơn, dễ áp dụng hơn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.
123doc 8 So với quy định của BLHS năm 1985 thì quy định mới của tội cho vay lãi nặng trong BLHS năm 1999 đã cụ thể hơn. Nếu BLHS năm 1985 quy định đối với hành vi cho vay lãi nặng “ngƣời nào CVLN”3, thì BLHS năm 1999 quy định rõ ràng cụ thể hơn “Ngƣời nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mƣời lần trở lên có tính chuyên bóc lột”4. Từ những phân tích trên và quy định của BLHS, ta có thể đƣa ra khái niệm về tội cho vay lãi nặng nhƣ sau: CVLN là hành vi của bên cho vay cho ngƣời khác vay một số tiền, tài sản và lấy lãi suất cao hơn mƣời lần lãi suất cao nhất của pháp luật quy định và có tính chất chuyên bóc lột. Ví dụ: Ông X cho ông Y vay mƣời triệu đồng với thỏa thuận lãi suất là một triệu trăm nghìn đồng/ ngày tƣơng đƣơng 30%/tháng vƣợt mức hơn mƣời lần lãi suất cao nhất pháp luật quy định (ông X là ngƣời chuyên CVLN để kiếm sống) tại thời điểm Ngân hàng Nhà nƣớc công bố lãi suất cơ bản là 9%/năm theo quy định của BLDS thì mức lãi suất cao nhất tại thời điểm là 13%/năm tƣơng đƣơng 1,125%/tháng.
Nhƣ vậy ông X có dấu hiệu phạm tội CVLN. Tuy nhiên, việc xử lý đối với loại tội phạm này vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do pháp luật quy định chƣa rõ ràng mức lãi suất vẫn còn cao, cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó tìm chứng cứ chứng minh tính chuyên bóc lột và ngƣời cho vay lãi nặng thƣờng là thỏa thuận miệng hoặc viết tay không có ghi lãi suất và việc thỏa thuận thƣờng chỉ có hai ngƣời biết, không có ngƣời thứ ba chứng kiến. Từ đó, mà BLHS năm 2015 quy định về tội CVLN nhƣ sau: “1. Ngƣời nào trong giao dịch dân sự mà cho vay lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000 đ hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000 đ hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000 đ trở lên, thì phạt tiền từ 200.000 đ hoặc phạt t từ 06 tháng đến 03 năm. 3 Điều 171 BLHS năm 1985 4 Điều 163 BLHS năm 1999 123doc 9 3. Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000đ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”5. Nhƣ vậy, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đƣợc hiểu là hành vi cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ năm lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột.
Tuy nhiên, do có nhiều sai sót trong biên soạn đến nay Bộ luật hình sự năm 2015 vẫn chƣa có hiệu lực pháp luật6. Những vấn đề cần chứng minh đối với tội CVLN Căn cứ vào điều 163 BLHS và đặc điểm pháp lý của tội cho vay lãi nặng, trong quá trình điều tra các vụ án cho vay lãi nặng, Cơ quan cảnh sát điều tra cần chứng minh, làm rõ đƣợc các vấn đề sau 7: - Có vụ áncho vay lãi nặng xảy ra không? Hay là tin báo giả để nhằm mục đích che dấu vấn đề gì đó. Nếu xác minh có vụ áncho vay lãi nặng xảy ra thì cần làm rõ thời gian, địa điểm xảy ra và lãi suất cho vay là bao nhiêu? Đặc điểm nhƣ thế nào? Vụ án xảy ra ở đâu? Ai là ngƣời bị hại?Ở đâu? - Ai là ngƣời thực hiện hành vi phạm tội? có đồng phạm không? vai trò đồng phạm của từng đối tƣợng trong vụ án? tính chất, mức độ của từng đối tƣợng tham gia nhƣ thế nào? ngƣời thực hiện hành vi phạm tội phải có lỗi cố ý trong mặt chủ quan của tội phạm. Ngƣời thực hiện hành vi phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay không? nếu nghi ngờ ngƣời thực hiện hành vi phạm tội mắc bệnh tâm thần thì phải trƣng cầu giám định.
- Tính chất, mức độ, tổng lợi nhuận thu đƣợc là bao nhiêu? - Làm rõ lai lịch, nhân thân, tuổi, nghề nghiệp, trình độ, hoàn cảnh gia đình, dân tộc, quốc tịch, tiền án, tiền sự…trong đó chú ý đến tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt? - Làm rõ thủ đoạn, phƣơng thức gây án của thủ phạm qua các giai đoạn phạm tội; công cụ, phƣơng tiện phạm tội? - Làm rõ động cơ, mục đích gây án, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra? 5 Điều 163 BLHS năm 1999 6 Nghị quyết số 144/2016/QH13, ngày 29/6/2016 của Quốc hội Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII 7 Giáo trình Phƣơng pháp đấu tranh phòng chống một số tội phạm hình sự cụ thể, trƣờng TC.CSND III, năm 2013 123doc 10 - Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của đối tƣợng gây án? 1.