phần mở đầu đã phân tích trong những năm gần đây do sự dịch chuyển cơ học về dân số giữa các vùng miền (từ nông thôn lên thành thị) đã kéo theo một bộ phận không nhỏ dân cư sống tại thành phố không có việc làm ổn định, trong đó có cả nữ giới. Từ đó kéo theo cơ cấu người phạm tội xét theo giới tính đang có sự thay đổi. Số lượng người phạm tội là nữ giới đang có xu hướng tăng lên và các loại tội phạm do họ thực hiện ngày càng đa dạng. Đặc biệt, loại tội trộm cắp tài sản không cần dùng đến sức mạnh nên khá phù hợp với đặc điểm hành vi của nữ giới do đó tỉ lệ nữ giới thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản ngày càng tăng.
Đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp. Trình độ học vấn và nghề nghiệp là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ nhận thức thế giới xung quanh và sự phát triển trí tuệ con người. Nó ảnh hưởng rất lớn đến hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội nói chung và hành vi phạm tội nói riêng. Hai loại đặc điểm này có mối liên quan chặt chẽ với nhau và cũng là những đặc điểm nổi bật của chủ thể thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Xét về mối liên hệ giữa hai đặc điểm trên ta thấy trình độ học vấn quyết định đến nghề nghiệp của mỗi cá nhân Trình độ học vấn cao thì cơ hội tìm được công việc sẽ cao hơn. Đồng thời, khi đó nghề nghiệp ổn định, thu nhập cao sẽ có cơ hội nhiều hơn để cá nhân nâng cao trình độ học vấn của bản thân. Đây cũng là lý do tại sao đặc điểm này là đặc điểm nổi bật của về nhân thân của chủ thể thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Xét đến cùng động cơ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xuất phát từ việc không có tài sản để thỏa mãn các nhu cầu lệch chuẩn của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.
Người có trình độ học vấn cao, nghề nghiệp ổn định tức là thu nhập sẽ ổn định và cao hơn nhưng người có trình độ học vấn thấp và nghề nghiệp không ổn định khi đó động cơ thúc đẩy thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gần như là không có. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là tất cả những 17 luan an người có trình độ học vấn cao, nghề nghiệp ổn định thì không có động cơ thúc đẩy thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Từ những phân tích trên ta có thể phân loại như sau: Về đặc điểm trình độ học vấn chia thành 04 nhóm: nhóm không biết chữ, nhóm có học vấn từ tiểu học và trung học cơ sở, nhóm có trình độ học vấn trung học phổ thông, nhóm có trình độ Cao đẳng và Đại học trở lên. Về đặc điểm nghề nghệp cũng có thể chia thành 03 nhóm: nhóm không có nghề nghiệp, nhóm nghề nghiệp không ổn định, nhóm nghề nghiệp ổn định.
Đặc điểm về hoàn cảnh gia đình. Hoàn cảnh gia đình và sự thay đổi của nó có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của con người, ở một mức nhất định chúng cũng tác động đến tính định hướng và sự kiên định thực hiện tội phạm [36, tr. Cùng với các môi trường giáo dục khác , gia đình là nơi định hướng cho các hành vi ứng xử của mỗi thành viên. Nghiên cứu đặc điểm hoàn cảnh gia đình trong nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản là nghiên cứu ở các khía cạnh: Quan hệ gia đình, thành phần gia đình và hoàn cảnh kinh tế gia đình với những tác động của nó tới người phạm tội.
Đặc điểm về quan hệ gia đình là những thông tin phản ánh về tình trạng hôn nhân, cơ cấu gia đình của người phạm tội. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở cùng một nhóm lứa tuổi những người đã kết hôn thường ít phạm tội hơn những người chưa kết hôn vì những người đã kết hôn họ sẽ phải cố gắng kiếm những công việc ổn định để nuôi sống gia đình họ, tương tự những người sống trong gia đình có cơ cấu gia đình hoàn thiện, gia đình hòa thuận, hạnh phúc thường ít phạm tội hơn những người sống trong gia đình có cơ cấu không hoàn thiện hoặc không hạnh phúc. Hoàn cảnh kinh tế gia đình là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành động cơ, mục đích phạm tội trộm cắp tài sản. Như đã phân tích, mục đích của chủ thể tội trộm cắp tài sản đó là chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm thỏa mãn những nhu cầu lệch chuẩn của họ.
Do đó, không khó để nhận ra rằng hoàn cảnh 18 luan an kinh tế gia đình khó khăn là một trong những kiểu gia đình tác động đến quá trình hình thành đặc điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội như tâm lý dao động, quẫn bách, chán nản, bế tắc về kinh tế khi đó dễ phát sinh hành vi trộm cắp tài sản. Ngoài ra kiểu gia đình có người thân vi phạm pháp luật, gia đình bố mẹ quá nuông chiều con cái, gia đình bố mẹ quá hà khắc với con cái … cũng là một trong những đặc điểm về hoàn cảnh gia đình của người phạm tội trộm cắp tài sản. Nhóm dấu hiệu đạo đức - tâm lý xã hội 1. Quan điểm, thái độ đối với các giá trị đạo đức xã hội, pháp luật Xuất phát từ mục đích thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đó là chiếm đoạt tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu lệch chuẩn của chủ thể thực hiện hành vi, họ thường có thái độ thờ ơ, coi thường pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật; tâm lý hám lợi, đua đòi, sống nhanh, sống gấp, lười làm việc, thích hưởng thụ đã thúc đẩy họ kiếm tiền bằng mọi giá.
Đối với họ lợi ích cá nhân là trên hết, không quan tâm đến lợi ích của xã hội, của người khác. Vì vậy, họ chỉ lựa chọn những biện pháp có thể đem lại lợi ích cho bản thân, nhất là các lợi ích vật chất, kể cả điều đó có thể xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác. Nhu cầu, sở thích, thói quen Các đặc điểm trên luôn tồn tại ở bất cứ một con người cụ thể nào, nhưng khác với phần còn lại của xã hội những người phạm tội nói chung và chủ thể của tội trộm cắp tài sản nói riêng thường có nhu cầu, sở thích, thói quen tiêu cực, không lành mạnh họ sẵn sàng thực hiện mọi biện pháp kể cả vi phạm pháp luật để thỏa mãn nhu cầu sở thích đó. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản luôn có nhu cầu về vật chất để thỏa mãn sở thích, thói quen, thú vui tiêu xài hoang phí, thú vui cờ bạc, thích hưởng thụ, thích giàu lên nhanh chóng bằng mọi cách.
Khi đó nhu cầu, sở thích, thói quen tiêu cực đó sẽ tác động trực tiếp đến việc hình thành mục đích, động cơ phạm tội và sự kiên định thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội. Nhóm dấu hiệu pháp lý - hình sự 19 luan an Các đặc điểm về pháp lý - hình sự của nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản là những dấu hiệu quan trọng để khẳng định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đã có lỗi và có ý nghĩa trong việc định tội, định khung, quyết định hình phạt. Các đặc điểm pháp lý - hình sự bao gồm: Động cơ, mục đích phạm tội, phạm tội lần đầu hay tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, đã bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính (có tiền sự)… 1. Động cơ, mục đích phạm tội Động cơ là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội.
Mục đích là kết quả trong ý thức chủ quan mà chủ thể phạm tội mong muốn đạt được khi thực hiện tội phạm [18, tr. Nắm rõ được động cơ, mục đích thực hiện tội phạm giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân phạm tội, đồng thời đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nếu động cơ, mục đích phạm tội càng rõ ràng thì tính chất của tội phạm càng nguy hiểm và hậu quả của tội phạm càng nghiêm trọng. Bên cạnh đó xác định được động cơ, mục đích của tội phạm giúp cơ quan chức năng tìm ra những biện pháp tác động tích cực nhằm loại trừ động cơ phạm tội, ngăn cản mục đích tội phạm, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả mà người phạm tội trộm cắp tài sản có thể gây ra cho xã hội. Phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm Phạm tội lần đầu là trường hợp người phạm tội trước đó: chưa phạm tội lần nào; đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích [27].
Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý (Khoản 1, Điều 53 - BLHS năm 2015, 20 luan an sửa đổi năm 2017). Trong tội trộm cắp tài sản tái phạm được là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tái phạm nguy hiểm là trường phạm tội trước đó đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý (Khoản 2, Điều 53 - BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017). Trong tội trộm cắp tài sản tái phạm nguy hiểm là dấu hiệu pháp lý để định khung hình phạt được quy định tại Điểm g, khoản 2, điều 173 - BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017.
Từ khái niệm trên ta thấy đa số trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm thường có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn nhiều so với người mới phạm tội lần đầu, ở họ đã có kinh nghiệm trong việc thực hiện tội phạm cũng như đối phó với hoạt động điều tra, xử lý của các cơ quan bảo vệ pháp luật, có khả năng thực hiện tội phạm nghiêm trọng hơn.