Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Người chưa thành niên là chủ thể đặc thù trong xã hội, đang trong giai đoạn hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhận thức, do đó cần nhận được sự chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặc biệt. Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế và tại Việt Nam, tình trạng lạm dụng sức lao động chưa thành niên, bóc lột lao động dưới tuổi tối thiểu thông qua các hình thức trá hình hoặc bố trí làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm vẫn diễn biến phức tạp. Việc bảo đảm quyền lao động song song với bảo vệ sức khỏe, quyền học tập của người chưa thành niên là yêu cầu cấp bách cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Từ trải nghiệm thực tế trong chương trình trao đổi sinh viên tại Đại học Nagoya (Nhật Bản) từ tháng 9/2023 đến tháng 2/2024, tác giả nhận thấy Nhật Bản là quốc gia có chỉ số an toàn lao động hàng đầu thế giới và kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ lao động chưa thành niên. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu các quy định pháp luật giữa Việt Nam và Nhật Bản mang lại cơ sở khoa học để đánh giá ưu điểm, hạn chế và tiếp thu những bài học lập pháp tiến bộ nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Khảo sát tình hình nghiên cứu trong khoảng 05 năm trở lại đây cho thấy các công trình tiêu biểu tại Việt Nam (như luận văn của Nguyễn Quốc Bảo Lâm năm 2022, Phạm Đức Tôn năm 2021, Nguyễn Thế Hùng năm 2018, Lê Thị Thùy Dương năm 2018, hay kỷ yếu hội thảo của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2018) chủ yếu tập trung vào pháp luật thực định Việt Nam mà chưa có đề tài nghiên cứu so sánh chuyên sâu cấp khóa luận giữa pháp luật Việt Nam và Nhật Bản.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là phân tích các quy định pháp luật hiện hành về lao động chưa thành niên tại Việt Nam và Nhật Bản, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về lao động chưa thành niên và bảo vệ người lao động chưa thành niên.
  2. Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên của Việt Nam và Nhật Bản, phân tích các điểm hạn chế và thành công của pháp luật, các cơ chế thực thi pháp luật nhằm bảo vệ lao động chưa thành niên của hai quốc gia này.
  3. Đưa ra những nhận xét, đánh giá trong tương quan nghiên cứu so sánh quy định pháp luật về bảo vệ người lao động chưa thành niên đã phân tích giữa Việt Nam và Nhật Bản, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người lao động chưa thành niên tại Việt Nam trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và Nhật Bản về bảo vệ người lao động chưa thành niên cùng thực trạng tham gia quan hệ lao động của đối tượng này tại hai quốc gia.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định cơ bản về quan hệ lao động trong các văn bản pháp luật cao nhất về lao động của hai nước; lồng ghép các cơ chế bảo vệ; giới hạn không đi sâu vào chế định kỷ luật lao động và giải quyết tranh chấp lao động.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào không gian pháp lý của Việt Nam và Nhật Bản, kết hợp tham chiếu các chuẩn mực quốc tế và một số quốc gia khác (Trung Quốc, Mông Cổ, Hàn Quốc) để củng cố lập luận.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào pháp luật hiện hành và các số liệu thống kê thu thập trong khoảng 05 năm gần đây, có xem xét yếu tố lịch sử lập pháp để làm rõ tiến trình thay đổi quy định.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và văn bản pháp luật tham chiếu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em và các tiêu chuẩn lao động quốc tế, bao gồm:

  • Văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 (Điều 23); Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1959; Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC - Điều 1, 2, 3, 6, 12); Quy tắc Bắc Kinh năm 1985; Hướng dẫn Riyadh năm 1990; Công ước ILO số 138 năm 1973 về độ tuổi lao động tối thiểu; Công ước ILO số 182 năm 1999 về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; Khuyến nghị ILO số 116 về giảm thời giờ làm việc; Khuyến nghị ILO số 146; Chương trình Quốc tế về Xóa bỏ Lao động Trẻ em (IPEC) do ILO thành lập năm 1992.
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 19, 21); Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 1); Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 (Điều 38); Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 14); Bộ luật Lao động năm 2019 (các Điều 13, 18, 21, 61, 94, 95, 96, 105, 106, 109, 113, 134, 143, 144, 145, 146, 147); Nghị định số 145/2020/NĐ-CP; Nghị định số 12/2022/NĐ-CP (Điều 17, 29); Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH.
  • Văn bản pháp luật Nhật Bản: Bộ luật Dân sự Nhật Bản số 89 năm 1896 (Điều 4, được sửa đổi hạ độ tuổi thành niên xuống 18 tuổi từ ngày 01/4/2022); Đạo luật Vị thành niên số 168 năm 1948; Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản số 49 năm 1947 (các Điều 56, 58, 62, 63, 118, 119); Đạo luật Xúc tiến Phát triển Nguồn Nhân lực số 64 năm 1969; Đạo luật về các biện pháp đối phó việc làm số 132 năm 1966; Luật Giáo dục học đường Nhật Bản.
  • Văn bản pháp luật tham chiếu khác: Luật Lao động Trung Quốc năm 1994 và Luật Bảo vệ người chưa thành niên Trung Quốc năm 2006; Bộ luật Hình sự Mông Cổ sửa đổi năm 2016; Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Hàn Quốc số 11270 năm 2012.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống và hiện đại:

  • Phương pháp tổng hợp, phân tích, giải thích, bình luận: Sử dụng tại Chương 1 nhằm làm rõ các khái niệm, đặc điểm tâm sinh lý, cơ sở bảo vệ và nguyên tắc pháp lý đối với lao động chưa thành niên.
  • Phương pháp phân tích, đánh giá, đối chiếu: Sử dụng tại Chương 2 để mổ xẻ từng chế định pháp lý cụ thể của Việt Nam và Nhật Bản, làm nổi bật ưu điểm và hạn chế trong các văn bản quy phạm.
  • Phương pháp so sánh luật học: Phương pháp chủ đạo xuyên suốt Chương 3 nhằm đối chiếu điểm tương đồng, khác biệt giữa hệ thống pháp luật hai nước, lý giải nguyên nhân và đánh giá tính hợp lý của các quy định.
  • Phương pháp dự liệu: Được sử dụng để đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật, xác định tính khả thi khi tiếp thu kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản vào điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và Nhật Bản, các điều ước quốc tế đa phương, giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội, các công trình luận văn thạc sĩ và bài báo khoa học pháp lý đã công bố, cùng tài liệu thu thập từ các tổ chức quốc tế (ILO, UN).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về lao động chưa thành niên và pháp luật về lao động chưa thành niên

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về người lao động chưa thành niên và hệ thống nguyên tắc bảo vệ pháp lý:

  • Khái niệm và đặc điểm: Người chưa thành niên được tiếp cận dưới góc độ độ tuổi và năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ. Trên bình diện quốc tế, theo Công ước CRC 1989, người dưới 18 tuổi được coi là trẻ em. Tại Việt Nam, Bộ luật Dân sự 2015 quy định người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, trong khi Luật Trẻ em 2016 xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Tại Nhật Bản, Bộ luật Dân sự sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/4/2022 đã hạ độ tuổi thành niên từ 20 tuổi xuống 18 tuổi. Về lao động, Điều 143 Bộ luật Lao động Việt Nam 2019 quy định lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. Người lao động chưa thành niên có 4 đặc điểm cơ bản: (1) Thể chất chưa phát triển hoàn thiện; (2) Tâm lý non nớt, dễ bị tác động; (3) Năng lực hành vi giao kết hợp đồng lao động bị hạn chế; (4) Phạm vi công việc được phép tham gia bị kiểm soát chặt chẽ.
  • Cơ sở và biện pháp bảo vệ: Việc bảo vệ dựa trên quyền con người (Điều 23 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948), phòng ngừa tác động tiêu cực đến sức khỏe, tránh gián đoạn giáo dục, ngăn chặn nguy cơ đói nghèo liên thế hệ và bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Ba nhóm biện pháp bảo vệ gồm: kinh tế (hỗ trợ thu nhập gia đình), xã hội (tuyên truyền, phổ cập giáo dục) và pháp lý (thiết lập tiêu chuẩn bắt buộc và chế tài nghiêm khắc).
  • Nguyên tắc và nội dung điều chỉnh: Dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi của Công ước CRC 1989 (không phân biệt đối xử, vì lợi ích tốt nhất của trẻ, quyền tồn tại và phát triển, quyền được lắng nghe), pháp luật xây dựng các quy định theo hướng: tôn trọng quyền làm việc tự nguyện, thiết lập tiêu chuẩn tối thiểu về quyền lợi và tối đa về nghĩa vụ. Sáu nội dung điều chỉnh cơ bản gồm: độ tuổi tối thiểu; việc làm và đào tạo nghề; hợp đồng lao động; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; an toàn, vệ sinh lao động; tiền lương.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Trình bày các quy định của Công ước ILO số 138, Công ước ILO số 182, hoạt động của chương trình IPEC (hoạt động tại 88 quốc gia với ngân sách hơn 61 triệu USD năm 2008), cùng mô hình lập pháp của Trung Quốc (tuổi tối thiểu 16 tuổi) và Mông Cổ (thành lập Ủy ban Quốc gia NC-WFCL và Chương trình NAP-WFCL).

Chương 2: Thực trạng bảo vệ lao động chưa thành niên trong pháp luật của Việt Nam và Nhật Bản

Chương này đi sâu phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định tại hai quốc gia theo 6 nội dung cơ bản:

1. Pháp luật Việt Nam

  • Độ tuổi lao động: Quy định độ tuổi tối thiểu chung là đủ 15 tuổi; ngoại lệ cho phép người từ đủ 13 đến chưa đủ 15 tuổi làm công việc nhẹ, và người chưa đủ 13 tuổi làm các công việc nghệ thuật, thể dục thể thao theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
  • Việc làm và đào tạo nghề: Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH quy định danh mục công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên. Về đào tạo nghề, Điều 61 Bộ luật Lao động 2019 quy định độ tuổi học nghề tối thiểu là đủ 14 tuổi; thời hạn tập nghề không quá 03 tháng, thời gian học nghề từ 03 tháng đến 03 năm theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014. Người sử dụng lao động phải trả lương nếu học viên trực tiếp làm ra sản phẩm. Tuy nhiên, quy định về hợp đồng đào tạo nghề còn kẽ hở khi để hai bên tự thỏa thuận thời gian cam kết làm việc sau đào tạo. Hành vi vi phạm quy định về độ tuổi và danh mục công việc bị xử phạt hành chính từ 50.000.000 đồng theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
  • Hợp đồng lao động: Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi được tự giao kết hợp đồng lao động nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật (chỉ áp dụng hợp đồng lời nói cho công việc dưới 01 tháng). Người dưới 15 tuổi phải do người đại diện trực tiếp giao kết bằng văn bản có sự hiện diện của người chưa thành niên. Vi phạm quy định này bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng.
  • Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi: Người dưới 15 tuổi làm việc tối đa 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần, tuyệt đối không làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm. Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi làm việc không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần; được phép làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm (22h - 6h) trong một số công việc theo danh mục (tác giả nhận định quy định này chưa hoàn toàn tương thích với Khuyến nghị 146 của ILO). Nghỉ phép năm của lao động chưa thành niên là 14 ngày làm việc (nhiều hơn người thành niên 02 ngày). Nghỉ giữa giờ tối thiểu 30 phút (ban ngày) hoặc 45 phút (ban đêm) theo Điều 109. Vi phạm bị xử phạt từ 20.000.000 đồng.
  • An toàn, vệ sinh lao động và tiền lương: Bắt buộc khám sức khỏe định kỳ ít nhất 01 lần trong 06 tháng đối với lao động dưới 15 tuổi và lập sổ theo dõi riêng (Điều 144, 145). Tiền lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu, được phép ủy quyền nhận lương, người sử dụng lao động phải trả phí duy trì tài khoản ngân hàng và cung cấp bảng kê chi tiết khi trả lương (Điều 94, 95, 96). Mức phạt vi phạm tiền lương từ 3.000.000 đến 75.000.000 đồng theo Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

2. Pháp luật Nhật Bản

  • Độ tuổi lao động: Khoản 1 Điều 56 Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động số 49 năm 1947 quy định độ tuổi tối thiểu là đủ 15 tuổi và phải kết thúc ngày 31 tháng 3 đầu tiên sau khi đủ 15 tuổi (nhằm bảo đảm hoàn thành giai đoạn giáo dục bắt buộc theo Luật Giáo dục học đường). Ngoại lệ: trẻ từ đủ 13 tuổi được làm việc nhẹ ngoài giờ học (trừ danh mục nguy hiểm tại Phụ lục số 1); trẻ dưới 13 tuổi chỉ được tham gia sản xuất phim điện ảnh và biểu diễn sân khấu.
  • Việc làm và đào tạo nghề: Điều 62 cấm sử dụng lao động dưới 18 tuổi làm các công việc nguy hiểm (vận hành máy móc đang chạy, truyền tải điện, xử lý hóa chất độc hại, chất nổ, phát tán bức xạ). Điều 63 cấm tuyệt đối làm việc dưới lòng đất. Ngoại lệ về học nghề nguy hiểm chỉ được áp dụng khi có sự phê duyệt của Thống đốc tỉnh theo Luật Xúc tiến Phát triển Nguồn Nhân lực 1969. Tuy nhiên, Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản vẫn tồn tại hạn chế khi cho phép trẻ từ 13 tuổi tham gia công việc đốt rác, giết mổ gia súc, tiềm ẩn tác động tiêu cực đến tâm lý.
  • Đại diện và chế tài: Theo Điều 58, người đại diện theo pháp luật giao kết hợp đồng lao động thay cho người chưa thành niên. Hệ thống chế tài của Nhật Bản mang tính răn đe hình sự cao: phạt tù kèm lao động bắt buộc đến 01 năm hoặc phạt tiền đến 500.000 yên đối với hành vi vi phạm độ tuổi tuyển dụng (Điều 56) và làm việc dưới lòng đất (Điều 63); phạt tù đến 06 tháng hoặc phạt tiền đến 300.000 yên đối với vi phạm về công việc nguy hiểm, độc hại (Điều 62).
Tiêu chí so sánh Pháp luật Việt Nam (BLLĐ 2019 & văn bản liên quan) Pháp luật Nhật Bản (Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động 1947 & văn bản liên quan)
Độ tuổi tối thiểu cơ bản Đủ 15 tuổi. Đủ 15 tuổi và phải qua ngày 31/3 của năm học hoàn thành giáo dục bắt buộc.
Độ tuổi tuyển dụng đặc thù Từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi (việc nhẹ); dưới 13 tuổi (nghệ thuật, thể thao). Từ đủ 13 tuổi (việc nhẹ ngoài giờ học); dưới 13 tuổi (chỉ điện ảnh, sân khấu).
Giao kết hợp đồng lao động 15 đến dưới 18 tuổi tự ký (có đồng ý bằng văn bản của đại diện); dưới 15 tuổi người đại diện ký. Người đại diện theo pháp luật trực tiếp giao kết hợp đồng thay cho người lao động chưa thành niên.
Thời giờ làm việc nhóm 15 - <18 tuổi Tối đa 08 giờ/ngày, 40 giờ/tuần; được làm thêm giờ, làm ban đêm theo danh mục. Quy định theo giờ học và tiêu chuẩn chung; cấm tuyệt đối làm việc ban đêm đối với người dưới 18 tuổi.
Thời giờ làm việc nhóm dưới 15 tuổi Tối đa 04 giờ/ngày, 20 giờ/tuần; cấm làm thêm giờ, cấm làm ban đêm. Giới hạn nghiêm ngặt theo giờ ngoài lớp học; cần giấy phép của cơ quan chức năng.
Ngoại lệ đào tạo nghề nguy hiểm Không quy định cho phép làm công việc thuộc danh mục cấm khi học nghề. Cho phép làm một số việc nguy hiểm khi được Thống đốc tỉnh phê duyệt theo Luật Xúc tiến PTNNL 1969.
Chế tài xử phạt chính Phạt tiền vi phạm hành chính (từ 20.000.000 đến 75.000.000 VNĐ) hoặc xử lý hình sự khi đủ yếu tố cấu thành. Phạt tù kèm lao động bắt buộc (đến 06 tháng hoặc 01 năm) hoặc phạt tiền (300.000 - 500.000 yên).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam và Nhật Bản về bảo vệ lao động chưa thành niên và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Chương 3 tổng kết các điểm tương đồng, dị biệt và đưa ra hệ thống kiến nghị:

  • Kết quả nghiên cứu so sánh:
    • Tương đồng: Cả hai nước đều nội luật hóa các tiêu chuẩn của Công ước ILO 138 và 182; phân chia lao động chưa thành niên theo các nhóm tuổi với điều kiện bảo vệ tăng dần; nghiêm cấm các công việc độc hại, nguy hiểm; bảo đảm bình đẳng về tiền lương tối thiểu; thiết lập cơ chế khám sức khỏe và giám sát thời giờ làm việc.
    • Khác biệt: Nhật Bản gắn mốc tuổi lao động trực tiếp với việc kết thúc năm học bắt buộc (ngày 31/3), trong khi Việt Nam xác định thuần túy theo ngày sinh; Nhật Bản sử dụng chế tài hình sự trực tiếp (phạt tù kèm lao động bắt buộc) trong luật lao động đối với hành vi vi phạm sử dụng lao động trẻ em, tạo sức răn đe mạnh hơn mức phạt hành chính của Việt Nam; Nhật Bản quy định người đại diện ký hợp đồng thay, trong khi Việt Nam cho phép nhóm 15 đến dưới 18 tuổi tự ký có sự đồng ý của cha mẹ.
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam:
    1. Gắn kết độ tuổi tối thiểu với giáo dục phổ cập: Nghiên cứu quy định độ tuổi lao động tối thiểu gắn liền với thời điểm hoàn thành chương trình trung học cơ sở bắt buộc (tương tự quy định kết thúc ngày 31/3 của Nhật Bản) để bảo đảm quyền học tập của trẻ em.
    2. Bãi bỏ quy định làm thêm giờ và làm việc ban đêm đối với nhóm 15 - dưới 18 tuổi: Sửa đổi Điều 146 Bộ luật Lao động 2019 theo hướng cấm hoàn toàn lao động dưới 18 tuổi làm việc ban đêm (22h - 6h) và làm thêm giờ, nhằm phù hợp với Khuyến nghị 146 của ILO và bảo vệ nhịp sinh học của người chưa thành niên.
    3. Mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực phi chính thức và nông nghiệp: Bổ sung các quy định cụ thể tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH nhằm kiểm soát lao động chưa thành niên trong ngành nông nghiệp (cày bừa, thu hoạch), diêm nghiệp, giúp việc gia đình và các công việc trên nền tảng kinh tế số.
    4. Hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng đào tạo nghề: Bổ sung quy định trần thời gian tối đa mà người lao động phải cam kết làm việc sau khi được đào tạo nghề tại Điều 61, tránh tình trạng doanh nghiệp lợi dụng hình thức đào tạo nghề để ràng buộc và bóc lột lao động.
    5. Tăng cường chế tài và cơ chế thanh tra giám sát: Nâng mức phạt tiền hành chính và cụ thể hóa các trường hợp xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng lao động dưới tuổi tối thiểu, đồng thời tăng thẩm quyền cho lực lượng thanh tra lao động và cơ quan bảo vệ trẻ em cấp cơ sở.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ lý luận và nguyên tắc quốc tế về bảo vệ lao động chưa thành niên theo chuẩn mực của ILO và Liên Hợp Quốc.
  • Phân tích chi tiết thực trạng 6 chế định pháp lý then chốt điều chỉnh lao động chưa thành niên tại Việt Nam (theo Bộ luật Lao động 2019, Nghị định 12/2022/NĐ-CP, Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH) và Nhật Bản (theo Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động số 49/1947, Đạo luật Xúc tiến Phát triển Nguồn Nhân lực số 64/1969).
  • Chỉ ra những bất cập thực tế trong pháp luật Việt Nam: việc cho phép người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ và làm việc ban đêm chưa tương thích với Khuyến nghị ILO 146; danh mục ngành nghề cấm chưa bao quát khu vực phi chính thức và nông nghiệp; thiếu quy định khống chế thời hạn cam kết làm việc trong hợp đồng học nghề.
  • Phân tích điểm hạn chế trong pháp luật Nhật Bản: việc Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản cho phép trẻ từ 13 tuổi làm việc tại cơ sở đốt rác, giết mổ gia súc gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý lứa tuổi.

Giải pháp và kiến nghị

Đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam:

  1. Quy định độ tuổi lao động tối thiểu gắn với việc hoàn thành giáo dục bắt buộc.
  2. Cấm hoàn toàn làm việc ban đêm và làm thêm giờ đối với lao động dưới 18 tuổi.
  3. Bổ sung chế định bảo vệ lao động chưa thành niên trong khu vực kinh tế phi chính thức, nông nghiệp và nền tảng số.
  4. Siết chặt điều khoản cam kết làm việc trong hợp đồng đào tạo nghề tại doanh nghiệp.
  5. Tăng cường chế tài xử phạt và nâng cao năng lực thanh tra lao động chuyên ngành.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Theo tự đánh giá của tác giả, đây là công trình nghiên cứu so sánh chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp tại Việt Nam trong vòng 05 năm trở lại đây đi sâu đối chiếu pháp luật bảo vệ lao động chưa thành niên giữa Việt Nam và Nhật Bản. Đề tài không chỉ dừng lại ở việc liệt kê quy định mà đã bóc tách từng điều khoản thực định, đặt trong bối cảnh văn hóa pháp lý và kinh tế - xã hội của hai nước để rút ra các giá trị tham khảo lập pháp có tính khả thi.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ tập trung vào các quy định cơ bản về quan hệ lao động trong văn bản luật cao nhất, chưa mở rộng nghiên cứu chuyên sâu về chế định kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp lao động có yếu tố người chưa thành niên.
  • Nguồn tư liệu thực tiễn: Số liệu và thực tiễn thi hành pháp luật tại Nhật Bản chủ yếu được tiếp cận qua các nguồn văn bản quy phạm và tài liệu nghiên cứu trong khuôn khổ 06 tháng trao đổi học thuật tại Đại học Nagoya, chưa thực hiện được khảo sát thực địa diện rộng trên các doanh nghiệp Nhật Bản.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế tài phán, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động và vai trò của Tòa án Gia đình/Tòa án Lao động trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên.
  • Nghiên cứu sâu về tác động của chuyển đổi số và kinh tế nền tảng (gig economy) đối với lao động chưa thành niên tại Việt Nam và các quốc gia phát triển.

Giá trị tham khảo

Đối tượng sử dụng

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Đặc biệt hữu ích cho sinh viên theo học các học phần Luật Lao động, Luật So sánh, Luật Quyền con người và Pháp luật bảo vệ trẻ em tại các cơ sở đào tạo luật.
  • Người làm công tác nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho các đề tài khóa luận, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tiêu chuẩn lao động quốc tế, tư pháp vị thành niên và pháp luật Nhật Bản.
  • Cơ quan xây dựng chính sách và thực thi pháp luật: Cung cấp luận cứ khoa học cho cán bộ thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan thanh tra lao động và các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em trong quá trình rà soát, kiến nghị sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật.

Nội dung đáng tham khảo

  • Phần tổng hợp, dịch thuật và phân tích các điều khoản của Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản (Đạo luật số 49/1947) và Đạo luật Xúc tiến Phát triển Nguồn Nhân lực Nhật Bản (Đạo luật số 64/1969).
  • Bảng đối chiếu, đánh giá tính tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của ILO (Công ước 138, Công ước 182, Khuyến nghị 116, 146).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận căn cứ vào văn bản nào để xác định độ tuổi thành niên tại Việt Nam và Nhật Bản?

Tại Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) được xác định căn cứ theo Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019. Tại Nhật Bản, tác giả căn cứ vào Điều 4 Bộ luật Dân sự Nhật Bản số 89 năm 1896 (sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/4/2022 hạ độ tuổi thành niên xuống 18 tuổi) và Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động số 49 năm 1947.

2. Pháp luật Nhật Bản quy định thời điểm tuyển dụng lao động đủ 15 tuổi khác biệt thế nào so với Việt Nam?

Việt Nam cho phép tuyển dụng khi người lao động đạt đủ 15 tuổi tính theo ngày sinh. Trong khi đó, khoản 1 Điều 56 Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản quy định người sử dụng lao động không được tuyển dụng trẻ em cho đến hết ngày 31 tháng 3 đầu tiên vào đúng hoặc sau ngày trẻ đủ 15 tuổi, nhằm bảo đảm trẻ đã hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc theo Luật Giáo dục học đường.

3. Tác giả chỉ ra điểm bất cập nào trong quy định về thời giờ làm việc của nhóm lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi ở Việt Nam?

Theo Điều 146 Bộ luật Lao động 2019, lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có thể được làm thêm giờ và làm việc ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tác giả nhận định quy định này chưa hoàn toàn tương thích với Khuyến nghị số 146 của ILO (yêu cầu cấm làm thêm giờ đối với lao động trẻ em) và gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, nhịp sinh học và việc học tập của các em.

4. Mức phạt tù cao nhất đối với hành vi vi phạm sử dụng lao động trẻ em theo Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản là bao lâu?

Theo khoản 1 Điều 118 Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản, người sử dụng lao động vi phạm quy định về độ tuổi tuyển dụng tối thiểu (khoản 1 Điều 56), sử dụng lao động dưới 13 tuổi không đúng quy định (khoản 2 Điều 56), hoặc vi phạm quy định cấm lao động dưới lòng đất (Điều 63) sẽ bị phạt tù kèm lao động bắt buộc không quá 01 năm hoặc phạt tiền không quá 500.000 yên.

5. Khóa luận nêu hạn chế gì về danh mục ngành nghề cấm sử dụng lao động chưa thành niên tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH của Việt Nam?

Tác giả phân tích rằng Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH chủ yếu tập trung vào các công việc thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng và khu vực kinh tế chính thức, mà chưa bao quát đầy đủ các hoạt động nặng nhọc trong ngành nông nghiệp (cày bừa, thu hoạch), ngư nghiệp (làm muối), cũng như khu vực phi chính thức (giúp việc gia đình, làm việc trên nền tảng internet, cơ sở làm đẹp) - nơi thực tế đang sử dụng nhiều lao động chưa thành niên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tuệ Minh đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý về bảo vệ người lao động chưa thành niên tại Việt Nam và Nhật Bản trong mối tương quan với các chuẩn mực quốc tế của ILO và Liên Hợp Quốc. Thông qua phương pháp so sánh luật học, công trình đã phân tích sâu sắc các điểm tương đồng, sự khác biệt và chỉ ra những khoảng trống lập pháp trong hệ thống pháp luật thực định Việt Nam, đặc biệt là các quy định về thời giờ làm việc ban đêm, đào tạo nghề và kiểm soát khu vực phi chính thức. Các kiến nghị được đề xuất dựa trên kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào tiến trình hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo vệ quyền lợi người lao động chưa thành niên tại Việt Nam.