CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE LAO DONG CHƯA THÀNH NIÊN VA PHAP LUAT VE LAO DONG CHUA THÀNH NIÊN 1. Khái quát về ho động chưa thành niên 1. Khái niệm và đặc điểm của người lao động chưa thành niên Về khái niệm người chưta thanh niềm Người chưa thành niên, về mat ngữ nghiia, là người chưa trưởng thành, ngược lại lại với người thành tiên Người chưa thành miên là người có năng lực hanh vi chưa đây đủ và được tiếp cận chủ yêu đưới góc độ dân sự. Năng lực hành vĩ dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của minh xác lập, thực hiện quyên, nghĩa vụ dân sự! Họ không có đây đủ năng lực hành vi dân sự không phải do các yêu tổ hen chế nhu khuyết tật về tâm thân hay nghiên ma tuý ma đây là quy luật tự nhién của đối tượng này khi họ chưa có sư phét triển đủ đây về mat nhận thức.
Đề xác định được đối tượng là người chưa thành miên, một tiêu chí phô thông được đất ra đó là quy dinh về độ tuổi. Day là một tiêu chí mang tính khách quan theo tùng thời điểm, điều kiện kinh tế, chính trị va xã hội của tùng quốc gia; từ do mà các nha làm luật cũng đưa ra những quy định khác biệt về độ tuổi tại quốc gia do để xác định một người đã thành miên hay chưa. Nhin chung, thuật ngữ “người chưa thành nién” thường được sử dụng để nhân manh những giới hen về nghiia vụ và trách nhiém pháp ly đổi với nhóm đối tượng đặc thù nay dua trên tiêu chi độ tuổi để có thé xây dung các phương thức hợp lý quản lý ho? Có thể hiểu, “người chưa thành miên” bao ham tật cả những nhóm nhân khâu x4 hội chưa có năng lực pháp luật day đủ do chưa dat dén độ tuôi nhật định ma phép luật ở mỗi quốc gia quy định. Trên phương điện quốc tế, theo Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trẻ em có nghĩa là bat ky người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dung với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc tê liên quan đền người chưa thành miên nlur Công ước về Quyền trẻ em (United Nations C onvention on the Rights of the Child) được Đại hột ' Điều 19 Bộ Luật Dân sự Việt Na năm 2015 ? Đặng Vii Cảnh Linh 2003), ƑT hàn: niên với chính sách đối với vị thành niên, NYB.
Lao động- 3ã hội, Hà Nội. đông Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989; Quy tắc tiêu chuẩn tôi thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành miên (United Nations Stendard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dan của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành miên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngay 14/12/1990. Theo quan niém quéc té thi tré em (Child) là người đưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuôi, thanh niên (Ý outh) là người tử 15 dén 24 tudi, người trẻ tuổi (Ý cung persons) bao gồm trễ em, người chưa thánh miên và thanh nién Co thé thay, quy định quốc tê về người chưa thành miên xác đính ho dựa trên đô tuôi là những người chưa đủ 18 tuổi. Trên phương điện pháp luật quốc gia, tại Việt Nam, theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2016, người chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 21 được gọi là “người chưa thành miên”.
Trong khi đó, đối tương “tré em”, theo Điêu 1 Luật Tré em Việt Nam nam 2016, là người có độ tuổi dưới 16 tuổi. Thực tê, nhiêu người đều quan niệm người chưa thành miên là trẻ em. Tuy nhiên, đây có thé là hai đối tương khác nhau. Có thể hiểu, trẻ em là người chưa thành niên nhưng không phải người chưa thành tiên nao cũng là trẻ em.
Đối với Hàn Quốc, pháp luật quốc gia này quy đính về độ tuổi của người chưa thành niên ở mức dưới 20 tuôi. Bộ luật Dân sự Hàn quốc (số 471 năm 1958) dù không dua ra định nghia cụ thể về người chưa thành niên, tuy nhiên dua vào quy đính về người thành niên tại Điêu 4 Bộ luật này” ta có thé rút ra được người thành nién tại Han Quốc là người chưa đủ 20 tuổi Một quốc gia khác cũng lây móc 20 tuổi dé xác định dé tuôi thành nién từ xa xưa đó là Nhật Bản Tai Nhật Bản, khái niệm “người chưa thành niên” được ghi nhận. tại Dao luật Vi thành miên số 168 năm 1948. Theo đó, người chưa thành miên là người đưới 20 tuổi (khoản 1 Điều 3).
Bên cạnh đó, “người chưa thành miên” được quy định 1a từ đủ 20 tuổi tai Bộ luật Dân sự Nhật Bản số 89 năm 1896. Đô tuổi trưởng thành từ lâu đã được xác định là bắt đầu từ 20 ở Nhật Bản, như được quy định lần đầu trong một tuyên bô năm 1876. Tuy nhiên, sau hơn 140 năm, từ ngày 1/4/2022, qua sửa đôi ` “Majority is attained upon completion of heety:ƒHHT years of age.” * Điều 4 Bo hit Dân sự Nhật Bin (56 89/1896), Bộ luật Dân sự Nhật Bản thi độ tuổi được coi là người thành niên đã ha xuống còn 18 tuổi. Theo quy định của Bộ luật dân sự nước này, đây là đô tuổi ma một người có thé tự minh giao kết hợp đông và không còn chịu sự ủy quyền của cha me.
Tất nhiên, ngay cả khi Bộ luật Dân sự ha thap đô tuôi trưởng thành thì giới hen đô tuổi uông rượu, thuốc lá và đánh bạc nơi công cộng (đua ngựa, đua xe dap, dua ô tô, đua thuyén) van tiếp tục được quy định là từ đủ 20 tuổi nhw trước. Từ đây, có thé liều, Nhật Bản gio đây đã coi người đưới 18 tuổi là "người chưa thành niên" Nhìn chung, hau hết các quốc gia trên thé giới đều lây mốc 18 tuôi dé xác dinh một người là chưa thành nién hay đã thành niên, trừ một số đất nước niu Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan quy định ở móc 20 tuôi, tuy nhiên hiện tại không có quốc gia nao quy định mốc xác định một người đã thành niên hay chưa thành niên dưới độ tuổi 18 Có thé thay, các hệ thống pháp luật dân sự khác nhau sẽ có những quan điểm khac nhau về người chưa thành miên cũng như việc ghi nhận về các quyền của người chưa thành niên khác nhau. Qua nghiên cứu và xem xét một số các quy định trong các văn bản pháp luật dân sự của mét vài hệ thông pháp luật sự khác nhau trên thé Bởi, “người chưa thành tiên” có thé được biểu với định nghĩa là những người đang trong quá trình phát trién; chưa có sự trưởng thành day đủ về thé chat, trí tuệ, cũng nhw chưa có day đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và chưa đạt dén một độ tuổi nhật định theo quy đính của pháp luật dan sự tại từng quốc ga. Về khái nigm người lao động chica thanh niêm Người lao động chưa thành niên, hiểu theo nghiia đơn giản nhật, là người chưa thành miên tham gia vào quan hệ lao đông, Tương tự như việc xác định một người chưa thành miên hay đã thành miên, người lao động chưa thành miên cũng được xác đính dua trên đô tuổi nhật định được quy định bởi từng quốc gia.
Có ngiữa là nêu người lao động đang ở đô tuôi đưới đô tudi quy định này thi sẽ được coi là người lao động chưa thành niên. Cho đền nay, chưa có một văn bản quốc tế nào, hau hệt là các Công ước của Tô chức lao đông quốc tê ILO, quy đính cụ thể về thuật ngữ “lao động chưa thành miên” ma thay vào đó các văn bản nay sử dung thuật ngữ “lao động trẻ em” (Child labor) - thuật ngữ thường ding dé chỉ tinh trang một người dưới 18 tuổi phải làm các công việc có hei đến tinh thân, thé chat, trí tuệ, đạo đức và nhân cách của các em; hoặc 10 phải làm việc từ đô tuổi nhỏ khiến cho các em mat di cơ hôi học tập và phát triển. Tuy nhiên, các khái niệm về trẻ em nay tương tự với khái niém người chưa thành tiên của Liên hợp quốc”, nên việc sử dung khái niém “lao động trẻ em” và “lao động clrưa thành niên” trong các tiêu chuẩn lao động quốc tê có tính chat tương đông Co thé biểu, theo pháp luật quốc tê, người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuôi Tại ViệtNam, khái tiệm về “lao đông chưa thành miên” được quy đính trong Bộ luật Lao động Việt Nam nam 2019. Theo đó, Điều 143 Bộ luật này quy định rằng: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”.
Trong Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luat Hà Nội giải thích “lao động chưa thành niên” như sau: “Lao động chưa thành nién là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm. hai loại lao động là lao động dui 15 tuổi và lao động từ đủ 1 5 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Hai khái niệm nảy có phân tươngđông với nhau khi cùng đựa trên cơ sở độ tuổi dé xác định phạm vi nhưng ở định nghĩa thứ hai đã phân biệt lao động chưa thành tiên thành bai nhóm tuổi 1 rang, mồi là lao động đưới 15 tuổi và hai 1à lao đông từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đối với Nhật Bản, quốc gia nay cũng không có điều luật nào đưa re môt khái tiệm 16 rang về “lao động chưa thành miên”, nhưng trong Đạo luật Tiêu chuan Lao động (Đao luật số 49 ngày7 tháng4 năm 1947) đã nhac đền hai thuật ngữ “minors” - một người còn quá trẻ dé có trách nhiệm pháp lý của một người lớn! và “children” - trẻ em, goi chung là người nhỏ tuổi.
Trong đó, tại Chương IV dao luật này đã nhắc tới “trẻ em đưới 13 tuổi" và “trẻ em dưới 18 tudi” vi vay có thé hiểu, đạo luật này đã đính nghĩa người đưới 18 tuổi là trễ em. Từ quy định về tuổi chưa thành niên trong Bồ luật Dân sự Nhật Bản và lao động nhỏ tuôi trong Đạo luật Tiêu chuân Lao đông Nhật Bản, người lao động đưới 18 tuôi có thé được coi lả “lao động chưa thành niên”. Tuy nhiên, trong pháp luật lao đông, đô tuổi của người lao đông không phải luôn được xác định giống với độ tuổi thành niên.