Pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam và Nhật Bản: Nghiên cứu so sánh

Khóa luận phân tích pháp luật về lao động chưa thành niên tại Việt Nam và Nhật Bản, cung cấp cái nhìn so sánh sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

82
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

0.3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

0.4. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Những đóng góp mới của khóa luận

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN

1.1. Khái quát về lao động chưa thành niên

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của người lao động chưa thành niên

1.1.2. Cơ sở của việc bảo vệ lao động chưa thành niên

1.1.3. Các biện pháp bảo vệ lao động chưa thành niên

1.1.4. Khái quát pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên

1.1.4.1. Khái niệm pháp luật bảo vệ lao động chưa thành niên
1.1.4.2. Nguyên tắc bảo vệ lao động chưa thành niên
1.1.4.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên

1.1.5. Pháp luật quốc tế và một số quốc gia về bảo vệ lao động chưa thành niên

1.1.5.1. Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ lao động chưa thành niên
1.1.5.2. Quy định pháp luật về bảo vệ lao động chưa thành niên tại một số quốc gia trên thế giới

1.2. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN TRONG PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN

2.1. Khái quát về thực trạng lao động chưa thành niên tại Việt Nam và Nhật Bản

2.1.1. Khái quát về thực trạng lao động chưa thành niên tại Việt Nam

2.1.2. Khái quát về thực trạng lao động chưa thành niên tại Nhật Bản

2.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ lao động chưa thành niên

2.3. Thực trạng pháp luật Nhật Bản về bảo vệ lao động chưa thành niên

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

3.1. Kết quả nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam và Nhật Bản về bảo vệ lao động chưa thành niên

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ lao động chưa thành niên từ kết quả nghiên cứu so sánh với pháp luật Nhật Bản

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật lao động chưa thành niên tại Việt Nam và Nhật Bản

Pháp luật về lao động chưa thành niên là một lĩnh vực quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay. Tại Việt Nam và Nhật Bản, các quy định pháp luật này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên, một đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội. Việc so sánh pháp luật lao động giữa hai quốc gia này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về thực trạng mà còn rút ra bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của lao động chưa thành niên

Lao động chưa thành niên được định nghĩa là những người dưới 18 tuổi, chưa đủ năng lực hành vi dân sự. Đặc điểm của nhóm đối tượng này là họ thường phải đối mặt với nhiều rủi ro trong môi trường làm việc, từ sức khỏe đến quyền lợi lao động.

1.2. Cơ sở pháp lý bảo vệ lao động chưa thành niên

Cơ sở pháp lý bảo vệ lao động chưa thành niên tại Việt Nam được quy định trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật liên quan. Tương tự, Nhật Bản cũng có những quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhóm đối tượng này.

II. Thực trạng pháp luật lao động chưa thành niên tại Việt Nam

Tại Việt Nam, thực trạng pháp luật về lao động chưa thành niên còn nhiều hạn chế. Mặc dù đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều trẻ em vẫn phải làm việc trong điều kiện không an toàn, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của họ.

2.1. Quy định pháp luật hiện hành về lao động chưa thành niên

Các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam về lao động chưa thành niên chủ yếu tập trung vào việc giới hạn độ tuổi làm việc và các điều kiện lao động. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này vẫn còn nhiều bất cập.

2.2. Thách thức trong việc thực thi pháp luật

Thực tế cho thấy, nhiều trẻ em vẫn phải làm việc trong các ngành nghề nặng nhọc, độc hại. Việc giám sát và kiểm tra thực thi pháp luật còn yếu kém, dẫn đến tình trạng vi phạm diễn ra phổ biến.

III. Thực trạng pháp luật lao động chưa thành niên tại Nhật Bản

Nhật Bản có hệ thống pháp luật lao động chưa thành niên khá hoàn thiện. Các quy định pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi mà còn đảm bảo an toàn cho người lao động chưa thành niên. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức cần giải quyết để nâng cao hiệu quả bảo vệ.

3.1. Quy định pháp luật về lao động chưa thành niên tại Nhật Bản

Nhật Bản quy định rõ ràng về độ tuổi lao động và các điều kiện làm việc an toàn cho người chưa thành niên. Các quy định này được thực thi nghiêm ngặt, giúp bảo vệ quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

3.2. Những thách thức trong thực tiễn

Mặc dù có nhiều quy định tốt, nhưng Nhật Bản cũng phải đối mặt với một số vấn đề như tình trạng lao động trái phép và việc lạm dụng quyền lợi của người lao động chưa thành niên.

IV. So sánh pháp luật lao động chưa thành niên giữa Việt Nam và Nhật Bản

Việc so sánh pháp luật lao động chưa thành niên giữa Việt Nam và Nhật Bản cho thấy nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Nhật Bản có hệ thống pháp luật chặt chẽ hơn, trong khi Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực thi.

4.1. Điểm tương đồng trong quy định pháp luật

Cả hai quốc gia đều công nhận quyền lợi của người lao động chưa thành niên và có các quy định nhằm bảo vệ họ. Tuy nhiên, cách thức thực thi và giám sát lại khác nhau.

4.2. Điểm khác biệt trong thực tiễn thực hiện

Nhật Bản có hệ thống giám sát và thực thi pháp luật hiệu quả hơn, trong khi Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm tra và xử lý vi phạm.

V. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật lao động chưa thành niên tại Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ lao động chưa thành niên, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường thực thi. Các kiến nghị bao gồm việc cải thiện quy định pháp luật, tăng cường giám sát và nâng cao nhận thức cộng đồng.

5.1. Cải thiện quy định pháp luật

Cần rà soát và sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành để phù hợp với thực tiễn và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động chưa thành niên.

5.2. Tăng cường giám sát và thực thi

Cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về lao động chưa thành niên, đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

VI. Kết luận và tương lai của pháp luật lao động chưa thành niên

Pháp luật lao động chưa thành niên tại Việt Nam cần được cải thiện để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của nhóm đối tượng này. Việc học hỏi từ kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

6.1. Tương lai của pháp luật lao động chưa thành niên

Tương lai của pháp luật lao động chưa thành niên tại Việt Nam phụ thuộc vào việc cải cách và nâng cao nhận thức của xã hội về quyền lợi của người lao động chưa thành niên.

6.2. Hướng đi cho nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu và so sánh pháp luật lao động chưa thành niên giữa các quốc gia khác để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp pháp luật về lao động chưa thành niên ở việt nam và nhật bản trong tương quan nghiên cứu so sánh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUAT VE LAO DONG CHƯA THÀNH NIÊN VA PHAP LUAT VE LAO DONG CHUA THÀNH NIÊN 1. Khái quát về ho động chưa thành niên 1. Khái niệm và đặc điểm của người lao động chưa thành niên Về khái niệm người chưta thanh niềm Người chưa thành niên, về mat ngữ nghiia, là người chưa trưởng thành, ngược lại lại với người thành tiên Người chưa thành miên là người có năng lực hanh vi chưa đây đủ và được tiếp cận chủ yêu đưới góc độ dân sự. Năng lực hành vĩ dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của minh xác lập, thực hiện quyên, nghĩa vụ dân sự! Họ không có đây đủ năng lực hành vi dân sự không phải do các yêu tổ hen chế nhu khuyết tật về tâm thân hay nghiên ma tuý ma đây là quy luật tự nhién của đối tượng này khi họ chưa có sư phét triển đủ đây về mat nhận thức.

Đề xác định được đối tượng là người chưa thành miên, một tiêu chí phô thông được đất ra đó là quy dinh về độ tuổi. Day là một tiêu chí mang tính khách quan theo tùng thời điểm, điều kiện kinh tế, chính trị va xã hội của tùng quốc gia; từ do mà các nha làm luật cũng đưa ra những quy định khác biệt về độ tuổi tại quốc gia do để xác định một người đã thành miên hay chưa. Nhin chung, thuật ngữ “người chưa thành nién” thường được sử dụng để nhân manh những giới hen về nghiia vụ và trách nhiém pháp ly đổi với nhóm đối tượng đặc thù nay dua trên tiêu chi độ tuổi để có thé xây dung các phương thức hợp lý quản lý ho? Có thể hiểu, “người chưa thành miên” bao ham tật cả những nhóm nhân khâu x4 hội chưa có năng lực pháp luật day đủ do chưa dat dén độ tuôi nhật định ma phép luật ở mỗi quốc gia quy định. Trên phương điện quốc tế, theo Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trẻ em có nghĩa là bat ky người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dung với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc tê liên quan đền người chưa thành miên nlur Công ước về Quyền trẻ em (United Nations C onvention on the Rights of the Child) được Đại hột ' Điều 19 Bộ Luật Dân sự Việt Na năm 2015 ? Đặng Vii Cảnh Linh 2003), ƑT hàn: niên với chính sách đối với vị thành niên, NYB.

Lao động- 3ã hội, Hà Nội. đông Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989; Quy tắc tiêu chuẩn tôi thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành miên (United Nations Stendard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dan của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành miên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngay 14/12/1990. Theo quan niém quéc té thi tré em (Child) là người đưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuôi, thanh niên (Ý outh) là người tử 15 dén 24 tudi, người trẻ tuổi (Ý cung persons) bao gồm trễ em, người chưa thánh miên và thanh nién Co thé thay, quy định quốc tê về người chưa thành miên xác đính ho dựa trên đô tuôi là những người chưa đủ 18 tuổi. Trên phương điện pháp luật quốc gia, tại Việt Nam, theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2016, người chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại Điều 21 được gọi là “người chưa thành miên”.

Trong khi đó, đối tương “tré em”, theo Điêu 1 Luật Tré em Việt Nam nam 2016, là người có độ tuổi dưới 16 tuổi. Thực tê, nhiêu người đều quan niệm người chưa thành miên là trẻ em. Tuy nhiên, đây có thé là hai đối tương khác nhau. Có thể hiểu, trẻ em là người chưa thành niên nhưng không phải người chưa thành tiên nao cũng là trẻ em.

Đối với Hàn Quốc, pháp luật quốc gia này quy đính về độ tuổi của người chưa thành niên ở mức dưới 20 tuôi. Bộ luật Dân sự Hàn quốc (số 471 năm 1958) dù không dua ra định nghia cụ thể về người chưa thành niên, tuy nhiên dua vào quy đính về người thành niên tại Điêu 4 Bộ luật này” ta có thé rút ra được người thành nién tại Han Quốc là người chưa đủ 20 tuổi Một quốc gia khác cũng lây móc 20 tuổi dé xác định dé tuôi thành nién từ xa xưa đó là Nhật Bản Tai Nhật Bản, khái niệm “người chưa thành niên” được ghi nhận. tại Dao luật Vi thành miên số 168 năm 1948. Theo đó, người chưa thành miên là người đưới 20 tuổi (khoản 1 Điều 3).

Bên cạnh đó, “người chưa thành miên” được quy định 1a từ đủ 20 tuổi tai Bộ luật Dân sự Nhật Bản số 89 năm 1896. Đô tuổi trưởng thành từ lâu đã được xác định là bắt đầu từ 20 ở Nhật Bản, như được quy định lần đầu trong một tuyên bô năm 1876. Tuy nhiên, sau hơn 140 năm, từ ngày 1/4/2022, qua sửa đôi ` “Majority is attained upon completion of heety:ƒHHT years of age.” * Điều 4 Bo hit Dân sự Nhật Bin (56 89/1896), Bộ luật Dân sự Nhật Bản thi độ tuổi được coi là người thành niên đã ha xuống còn 18 tuổi. Theo quy định của Bộ luật dân sự nước này, đây là đô tuổi ma một người có thé tự minh giao kết hợp đông và không còn chịu sự ủy quyền của cha me.

Tất nhiên, ngay cả khi Bộ luật Dân sự ha thap đô tuôi trưởng thành thì giới hen đô tuổi uông rượu, thuốc lá và đánh bạc nơi công cộng (đua ngựa, đua xe dap, dua ô tô, đua thuyén) van tiếp tục được quy định là từ đủ 20 tuổi nhw trước. Từ đây, có thé liều, Nhật Bản gio đây đã coi người đưới 18 tuổi là "người chưa thành niên" Nhìn chung, hau hết các quốc gia trên thé giới đều lây mốc 18 tuôi dé xác dinh một người là chưa thành nién hay đã thành niên, trừ một số đất nước niu Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan quy định ở móc 20 tuôi, tuy nhiên hiện tại không có quốc gia nao quy định mốc xác định một người đã thành niên hay chưa thành niên dưới độ tuổi 18 Có thé thay, các hệ thống pháp luật dân sự khác nhau sẽ có những quan điểm khac nhau về người chưa thành miên cũng như việc ghi nhận về các quyền của người chưa thành niên khác nhau. Qua nghiên cứu và xem xét một số các quy định trong các văn bản pháp luật dân sự của mét vài hệ thông pháp luật sự khác nhau trên thé Bởi, “người chưa thành tiên” có thé được biểu với định nghĩa là những người đang trong quá trình phát trién; chưa có sự trưởng thành day đủ về thé chat, trí tuệ, cũng nhw chưa có day đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và chưa đạt dén một độ tuổi nhật định theo quy đính của pháp luật dan sự tại từng quốc ga. Về khái nigm người lao động chica thanh niêm Người lao động chưa thành niên, hiểu theo nghiia đơn giản nhật, là người chưa thành miên tham gia vào quan hệ lao đông, Tương tự như việc xác định một người chưa thành miên hay đã thành miên, người lao động chưa thành miên cũng được xác đính dua trên đô tuổi nhật định được quy định bởi từng quốc gia.

Có ngiữa là nêu người lao động đang ở đô tuôi đưới đô tudi quy định này thi sẽ được coi là người lao động chưa thành niên. Cho đền nay, chưa có một văn bản quốc tế nào, hau hệt là các Công ước của Tô chức lao đông quốc tê ILO, quy đính cụ thể về thuật ngữ “lao động chưa thành miên” ma thay vào đó các văn bản nay sử dung thuật ngữ “lao động trẻ em” (Child labor) - thuật ngữ thường ding dé chỉ tinh trang một người dưới 18 tuổi phải làm các công việc có hei đến tinh thân, thé chat, trí tuệ, đạo đức và nhân cách của các em; hoặc 10 phải làm việc từ đô tuổi nhỏ khiến cho các em mat di cơ hôi học tập và phát triển. Tuy nhiên, các khái niệm về trẻ em nay tương tự với khái niém người chưa thành tiên của Liên hợp quốc”, nên việc sử dung khái niém “lao động trẻ em” và “lao động clrưa thành niên” trong các tiêu chuẩn lao động quốc tê có tính chat tương đông Co thé biểu, theo pháp luật quốc tê, người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuôi Tại ViệtNam, khái tiệm về “lao đông chưa thành miên” được quy đính trong Bộ luật Lao động Việt Nam nam 2019. Theo đó, Điều 143 Bộ luật này quy định rằng: “Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi”.

Trong Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luat Hà Nội giải thích “lao động chưa thành niên” như sau: “Lao động chưa thành nién là những lao động dưới 18 tuổi, bao gồm. hai loại lao động là lao động dui 15 tuổi và lao động từ đủ 1 5 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Hai khái niệm nảy có phân tươngđông với nhau khi cùng đựa trên cơ sở độ tuổi dé xác định phạm vi nhưng ở định nghĩa thứ hai đã phân biệt lao động chưa thành tiên thành bai nhóm tuổi 1 rang, mồi là lao động đưới 15 tuổi và hai 1à lao đông từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đối với Nhật Bản, quốc gia nay cũng không có điều luật nào đưa re môt khái tiệm 16 rang về “lao động chưa thành miên”, nhưng trong Đạo luật Tiêu chuan Lao động (Đao luật số 49 ngày7 tháng4 năm 1947) đã nhac đền hai thuật ngữ “minors” - một người còn quá trẻ dé có trách nhiệm pháp lý của một người lớn! và “children” - trẻ em, goi chung là người nhỏ tuổi.

Trong đó, tại Chương IV dao luật này đã nhắc tới “trẻ em đưới 13 tuổi" và “trẻ em dưới 18 tudi” vi vay có thé hiểu, đạo luật này đã đính nghĩa người đưới 18 tuổi là trễ em. Từ quy định về tuổi chưa thành niên trong Bồ luật Dân sự Nhật Bản và lao động nhỏ tuôi trong Đạo luật Tiêu chuân Lao đông Nhật Bản, người lao động đưới 18 tuôi có thé được coi lả “lao động chưa thành niên”. Tuy nhiên, trong pháp luật lao đông, đô tuổi của người lao đông không phải luôn được xác định giống với độ tuổi thành niên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "So sánh pháp luật về lao động chưa thành niên giữa Việt Nam và Nhật Bản" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt và tương đồng trong quy định pháp luật liên quan đến lao động chưa thành niên giữa hai quốc gia. Bài viết không chỉ phân tích các điều khoản pháp lý mà còn nêu bật những lợi ích và thách thức mà lao động chưa thành niên phải đối mặt trong môi trường làm việc. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức bảo vệ quyền lợi của lao động trẻ em, cũng như những chính sách hỗ trợ từ chính phủ.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ so sánh pháp luật việt nam về cho thuê lại lao động với một số nước trên thế giới, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về các quy định lao động. Ngoài ra, tài liệu Pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số của công ty cổ phần ở việt nam nghiên cứu so sánh với nhật bản và hoa kỳ cũng có thể mang lại những thông tin bổ ích về bảo vệ quyền lợi trong môi trường kinh doanh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ pháp luật về đấu thầu điện tử của một số nước kinh nghiệm và khả năng áp dụng ở việt nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý trong lĩnh vực đấu thầu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý hiện nay.