Chương 1 MộT Số VấN Đề Lý LUậN CƠ BảN Về nhãn hiệu hàng hóa Và PHáP LUậT BảO Hộ nhãn hiệu hàng hóa 1. Lý luận chung về nhãn hiệu hàng hóa 1. Quá trình hình thành, phát triển của nhãn hiệu hàng hóa và pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 1. Việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa từ thời tiền sử cho đến giai đoạn sụp đổ của đế chế La Mã Từ thời xa xưa trong lịch sử nhân loại, con người đã biết sử dụng các dấu hiệu nhận biết để định rõ quyền sở hữu của mình.
Ban đầu, những người nguyên thuỷ sử dụng các dấu hiệu để chỉ rõ quyền sở hữu đối với vật nuôi. Sau đó, các dấu hiệu nhận biết được sử dụng để chỉ rõ người sản xuất hàng hóa và nghĩa vụ của họ đối với chất lượng hàng hóa. Việc sử dụng này đạt tới đỉnh cao dưới thời La mã cổ đại [40]. Từ khoảng 5000 năm trước Công nguyên, loài người đã biết dùng một miếng kim loại nung đỏ để tạo ra dấu hiệu trên cổ những con bò, từ đó giúp chủ sở hữu dễ dàng phân biệt chúng với những con bò khác.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trên vách hang động hình ảnh của những chú bò rừng Bizon cùng với các ký hiệu của chúng có nguồn gốc từ thời kỳ đó. Ngoài ra, nhiều dấu hiệu dạng NH còn được tìm thấy trên các đồ gốm cùng thời [40]. 3500 năm trước Công nguyên, các nhà sản xuất đã biết sử dụng những dấu hiệu hình trụ để gắn lên hàng hóa của mình (các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những con dấu bằng đá dùng để ghi các dấu hiệu lên hàng hóa tại Cnossos, Crete) [40]. Khi khai quật được những viên gạch, đá, ngói và đồ gốm từ thời vua Ai Cập đầu tiên (khoảng 3000 năm trước công nguyên), các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng trên đó còn lưu giữ các dấu hiệu dùng để nói lên người làm ra chúng [40].
2000 năm trước công nguyên, những người thợ gốm Hy Lạp đã biết dùng những con dấu để gắn các dấu hiệu nhận biết lên sản phẩm của mình. Những con dấu được các nhà khảo cổ học tìm thấy ở gần thành Corinth là minh chứng cho điều đó [40]. Từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 3 trước Công nguyên: thay vì khắc các dấu hiệu như trên, những người thợ gốm ở Hy lạp đã dán các dấu hiệu nhận biết lên sản phẩm [40]. 500 năm trước Công nguyên đến 500 năm sau Công nguyên: Các NH được sử dụng rộng rãi ở La Mã.
Hàng ngàn viên gạch đã được gắn NH sau khi sản xuất. Người ta tin rằng các thợ thủ công đã sử dụng NH cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm sử dụng để quảng cáo cho người sản xuất, làm bằng chứng để khẳng định các sản phẩm thuộc về một thương gia cụ thể nào đó khi có tranh chấp về sở hữu đồng thời chúng cũng được sử dụng như một sự bảo đảm về chất lượng [40]. Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù những ký hiệu được sử dụng như trên không thể đồng nhất với khái niệm NHHH trong pháp luật hiện đại song ngay từ thời kỳ đó, chúng đã có những chức năng nhất định để phân biệt nguồn gốc của sản phẩm cũng như bảo chứng cho chất lượng sản phẩm. Việc gắn chúng chỉ mang tính tình cờ, tự phát và không được điều chỉnh bởi bất cứ một quy phạm nào.
Thời kỳ phục hưng của nhãn hiệu hàng hóa Có rất ít tư liệu nói về việc sử dụng NHHH từ khi đế chế La mã sụp đổ cho đến thời kỳ này. Chỉ có điều, mục đích sử dụng NHHH đã thay đổi nhanh chóng. Nếu như trước đây NH được sử dụng để khẳng định quyền sở hữu của chủ sở hữu hoặc người sản xuất thì đến lúc này NH được sử dụng trước hết để chỉ ra loại hàng đó do ai sản xuất nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Dần dần, NHHH được thừa nhận là lợi ích của chính các nhà sản xuất.
Cuối cùng, giá trị kinh tế của NH cũng đã được thừa nhận, tuy nhiên, việc bảo hộ chúng bằng pháp luật vẫn chưa thực sự rõ ràng [40]. Cụ thể: Vào khoảng thế kỷ thứ 12, khi xuất hiện những hiệp hội của các nhà buôn, hiệp hội các thợ thủ công, việc gắn NHHH trên sản phẩm, dịch vụ đã quay trở lại và ngày càng phổ biến. Chẳng hạn, trong một hiệp hội chuyên về sản xuất dao, mỗi người thợ thủ công làm ra một bộ phận của sản phẩm: người thợ rèn tạo ra lưỡi dao, người thợ mộc làm ra thân dao, người thợ da làm ra vỏ dao, v.v… Trong trường hợp này, mỗi người trong số họ đều có trách nhiệm đối với sản phẩm mà mình làm ra, do vậy đều có gắn "nhãn hiệu" của mình lên sản phẩm đó. Vào thế kỷ thứ 13, những nhà sản xuất bắt đầu sử dụng một loại NHHH mới, đó là NH giấy (dưới dạng Hình mờ, có thể nhìn thấy khi soi lên ánh sáng).
Loại NH này xuất hiện lần đầu tiên ở Italia [40]. Năm 1266, văn bản pháp luật đầu tiên liên quan đến NHHH được thông qua bởi nghị viện Anh với tên gọi: "Luật ghi nhãn hiệu của các nhà sản xuất bánh mì" (Bakers Marking Law). Theo quy định của văn bản này, mỗi người thợ nướng bánh phải gắn dấu hiệu riêng của mình lên bánh mỳ nhằm mục đích "nếu như bánh được nướng không đủ trọng lượng thì sẽ biết được ai là người có lỗi" [22], [40]. Năm 1365, những người sản xuất dao kéo ở Luân Đôn đã bảo vệ quyền đối với NHHH của mình bằng cách đăng ký chúng tại cơ quan chính quyền của thành phố [40].
Năm 1373, một Sắc lệnh được thông qua, trong đó yêu cầu các nhà sản xuất rượu phải gắn NHHH lên các chai rượu hoặc các thùng chứa rượu bằng da để tránh bị tráo hàng. Và chỉ bằng cách đó sản phẩm của họ mới được công nhận [40]. Năm 1452 là năm ghi dấu ấn khá đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của NHHH bởi đây là năm diễn ra vụ kiện đầu tiên liên quan đến NHHH. Đó là trường hợp một quả phụ được cho phép sử dụng NHHH của người chồng quá cố [40].
Cho đến khoảng cuối thế kỷ XV và thế kỷ XVI, việc sử dụng NHHH tăng lên nhanh chóng. Vào thời kỳ này, việc gắn NH cơ bản được thực hiện tuân thủ theo những quy định mang tính chất điều lệ của các xưởng sản xuất. Việc gắn NH có mục đích chủ yếu để chỉ ra rằng người sản xuất thuộc về một tổ chức nào đó - một xưởng thủ công hay một hiệp hội các nhà buôn - bằng cách đó gián tiếp công nhận rằng nhà sản xuất đó có quyền sản xuất hay buôn bán chủng loại hàng tương ứng. Dấu hiệu được thể hiện trên hàng hóa còn đồng thời là minh chứng bảo đảm cho việc hàng hóa được thợ sản xuất tuân thủ theo đúng những chuẩn mực kỹ thuật, thẩm mỹ đã được đặt ra và đã trải qua sự kiểm tra, giám sát nhất định của hiệp hội.
Dấu hiệu được gắn trên hàng hóa còn có vai trò như là một dấu hiệu về chất lượng sản phẩm. Thông thường, trong giai đoạn này, dấu hiệu không thuộc về cá nhân một người mà thuộc về một hiệp hội nào đó. Những hiệp hội này theo dõi rất sát sao việc tuân thủ những quy định đã được đặt ra về gắn NH và áp dụng những chế tài mạnh đối với những ai vi phạm chúng. Bên cạnh đó, vào thời kỳ này, ở một số ngành sản xuất có ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng (ví dụ như ngành sản xuất vũ khí, làm đồ vàng bạc) cũng tồn tại một số NH mang tính chất cá nhân mà việc sử dụng chúng có tính chất bắt buộc.
Những NH này được sử dụng nhằm mục đích chỉ rõ người sản xuất ra sản phẩm [22], [40]. Năm 1618 là năm diễn ra vụ xâm phạm NHHH khá nổi tiếng: một người sản xuất vải đã gắn NHHH của một nhà sản xuất danh tiếng lên sản phẩm của mình [40]. Sự kiện này được coi như chiếc cầu nối giữa NHHH của các thương gia trong thời kỳ trung đại và NH thương mại hiện đại. Nhãn hiệu hàng hóa và cuộc cách mạng công nghiệp Cho đến trước cuộc cách mạng công nghiệp, NHHH cũng chỉ có phạm vi áp dụng rất hạn hẹp với lý do: phần lớn hàng hóa vào thời kỳ bấy giờ được sản xuất ra dưới dạng cân đong từ các thùng, hộp hoặc các vật đựng đơn giản khác, hiếm khi có các dạng bao bì đặc chủng dùng riêng cho từng loại hàng hóa của các nhà sản xuất khác nhau.
Do đó, rất khó phân biệt hàng hóa của mỗi nhà sản xuất [22]. Việc sử dụng các NH với tính chất là các dấu hiệu phân biệt trên sản phẩm, dịch vụ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong khuôn khổ các quan hệ sản xuất mới: quan hệ sản xuất tư bản đang dần thay thế cho các quan hệ sản xuất phong kiến trước đây. Nhu cầu này xuất phát từ một loạt các nhân tố như: mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường giao lưu thương mại, sự gia tăng cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Phần lớn lợi nhuận của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nằm trong tương quan tỷ lệ trực tiếp với khối lượng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.
Quy mô thị trường trong từng giai đoạn cụ thể thì lại là một đại lượng vô cùng hạn chế. Do đó, vấn đề quan tâm sống còn, luôn đeo bám các nhà sản xuất và kinh doanh là làm sao để người tiêu dùng mua những sản phẩm, dịch vụ của mình mà không phải là những sản phẩm/dịch vụ cùng loại của nhà sản xuất/cung cấp khác. Nếu như ở giai đoạn hợp tác giản đơn và công trường thủ công, việc gắn NH vẫn chủ yếu có ý nghĩa như một công cụ để bảo chứng cho chất lượng sản phẩm thì khi phương thức sản xuất tư bản chuyển sang hình thức mới - công nghiệp máy móc - chức năng và quy mô gắn NH cho hàng hóa đã có những biến đổi quan trọng. Nền công nghiệp máy móc cho ra đời hàng loạt những sản phẩm cùng loại đã dẫn tới sự cạnh tranh không ngừng trên thị trường.
Trong điều kiện như vậy, vai trò của việc quảng cáo thông qua NHHH như là một công cụ để tiêu thụ hàng hóa ngày càng được chú trọng. Cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp, người ta bắt đầu sử dụng các hình thức đóng gói cá nhân cho các sản phẩm cùng loại.