Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu phụng 1.1 Sơ lược về cây đậu phụng Cây đậu phụng có tên tiếng anh là Peanut, thuộc ngành Spermatophytae (thực vật có hoa), Lớp Dycotyledonae (hai lá mam), lớp phụ Rosidae, bộ đậu Fabalese, ho đậu Fabaceae = Legminosae, họ phụ Papilionaceae (cánh bướm), giống Arachis L. loài Arachis hypogaea L. Cây đậu phụng có nguồn gốc từ Trung va Nam Mỹ. Được trồng ở lưu vực sông Amazon thuộc Peru cách 2000 — 3000 năm trước công nguyên, ngày nay đã phát triển khắp nơi từ vùng nhiệt đới và ôn đới.
Năm 1877, Skie đã tìm thấy quả đậu phụng trong ngôi mộ thời Ancon (thủ đô Pêru) (Nguyễn Minh Hiếu, 2010). Ngoài ra người ta còn thấy đậu phụng được trồng rất sớm ở Mexico, Braxin, Bolivia. Theo Krapovikat (1986), “Arachis hypogaea L. có nguồn gốc từ Bolivia tại các vùng đồi thấp và chân núi của dãy Ando”.
Gia thiết của Krapovikat cho tới nay van là giả thiết có cơ sở khoa học hon cả. Hiện nay, tại Nam Mỹ có sáu trung tâm gen của đậu phụng trồng. trên thế giới đã có hai trung tâm bậc hai, sự hình thành những trung tâm nay là do sự du nhập, lan truyền của cây đậu phụng vào những thé kỷ trước. Hạt đậu phụng có nhiều chất dinh dưỡng: hàm lượng lipit chiếm tỉ lệ lớn nhất, sau đó là protein, vitamin và gluxit.
Đậu phụng có thé được sử dụng trực tiếp (luộc, rang, nấu), dùng làm thực phẩm (rút dầu, bơ, pho mát), dùng làm thức ăn cho gia súc và là nguyên liệu phục vụ trong công nghiệp (công nghiệp ép dầu, công nghiệp thực phẩm). Ngoài ra còn có vai trò trong việc cải tạo đât.2 Đặc điểm thực vật học của cây đậu phụng Theo Lê Quốc Thanh và ctv (2016), cây đậu phụng có một số đặc điểm thực vật học: 1.1 Rễ Ré đậu phụng gồm có: rễ chính (rễ cọc): xuất hiện vào ngay thứ hai sau mọc mầm, phôi rễ mọc mam và chui ra khỏi vỏ hạt. Phôi rễ lớn dần và trở thành rễ chính, rễ này có thé ăn sâu từ 1 — 1,3 m. Rễ con: xuất phát từ các vị trí khác nhau trên rễ chính, phân nhánh nhiều tạo thành một mạng rễ dày đặc, rễ con xuất hiện vào ngày thứ ba sau nảy mầm.
Rễ nhánh (rễ phụ): xuất phát từ rễ con. Khi đậu được năm lá bộ rễ đã tương đôi hoàn chỉnh và not sân có khả năng cô định đạm. Đặc điểm nốt san: Ban đầu khi mới hình thành có màu trắng xanh, về sau chuyển sang hồng nhạt thường ở độ sâu 20 cm (nốt san hữu hiệu), sau cùng chuyên sang mau nâu (nốt san vô hiệu).2 Than, cành Thân đậu phụng thuộc dạng thân thảo. Khi còn non thân hình tròn nhưng khi già có góc cạnh, bên trong hơi xốp rỗng.
Thân đậu phụng được cấu tạo bởi nhiều đốt, khoảng 15 — 25 đốt, các đốt gốc và sát thân ngắn, to; các đốt trên dài hơn gần gốc nhưng các đốt ngọn ngắn lại và nhỏ dần vì giai đoạn đầu cây tăng trưởng chậm, khi cây có hoa tăng trưởng nhanh và đến khi thu hoạch cây tăng trưởng chậm lại. Chiều cao của các giống đậu phụng trồng ở Việt Nam là 30 — 75 cm. Chiều cao cây thích hợp trong sản xuất: 30 — 40 em, thân quá cao không thích hợp canh tác. Đậu phụng phân cành từ gốc, ngay từ 2 tử diệp.
Ở Việt Nam, đậu phụng chủ yếu thuộc nhóm Spanish, thân đứng có 2 cấp cảnh với tổng số cành 6 — 10 cành (4 - 6 cành cấp 1 và 2 — 4 cành cấp 2). Cây đậu phụng mang nhiều cành không có lợi vì có nhiều cành vô hiệu sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với các cành hữu hiệu. Các cành càng gan mặt đất càng dé trở thành cành hữu hiệu. Sức sinh trưởng của cặp cảnh cấp một đầu tiên tương đương sức sinh trưởng của thân.
Vào thời kỳ làm quả, sự vươn cao quá mạnh sẽ hạn chế tập trung dinh dưỡng về quả làm cho trọng lượng quả bị giảm.3 Lá Trên cây đậu phụng có hai loại lá: Lá mầm (tử diệp): Xuất hiện lúc cây mới mọc mầm. Trong 10 ngày đầu lá mầm có chức năng nuôi cây, sau đó tử điệp teo lại và rụng. Nếu hai tử điệp rụng sớm thì hai cành từ nách lá không mọc nên năng suât giảm đáng kê. Lá thật: Thuộc lá kép hình lông chim, mọc cách, mỗi lá có 4 lá chét, có khi có 3 — 6 lá chét.
Một lá thật gồm 3 phần chính: phiến lá, cuống lá và 2 lá kèm. Ở mỗi cuống lá chét có mô chứa nước, làm cho lá hoạt động đóng ban đêm, mở ban ngày gọi là hiện tượng lá ngủ. Có lá kèm ở nách cuông lá, hình mũi mác. Số lá thường tương ứng với số đốt thân.
Cuống lá dai từ 4 — 9 em. Trên cuống lá và hai mặt phiến lá đều có lông, đặc điểm này liên quan đến khả năng chống chịu bọ nhảy hại lá, màu sắc lá từ xanh đậm đến xanh nhạt tùy giống.4 Hoa Sau khi mọc mam 20 — 30 ngày, đậu phụng bắt đầu nở hoa (tùy giống). Hoa đậu phụng là hoa lưỡng tính 99,0 — 99,9% tự thụ, màu vàng, không có cuống, gồm năm bộ phận: lá bắc, đài hoa, tràng hoa, nhị đực và nhụy cái. Một cây có 70 — 200 hoa nhưng tỉ lệ đậu quả thấp: 19 — 23%.5 Quả Quả dạng hình kén, dài 1 — 8 cm, rộng 0,5 — 2 cm, một đầu dính vào thư đài khi khô thành cuống quả, đầu kia có dạng cong gọi là mỏ quả, phần giữa thắt eo lại.
Mỏ quả, độ thắt, kích thước, gân trên vỏ quả, trọng lượng quả là những đặc điểm dé phân loại giống đậu phụng.6 Hạt Khoảng 80 NSG hat đậu phụng đạt kích thước tôi đa. Có nhiều dang: bầu dục, tam giác, phan tiếp xúc hạt bên cạnh thường thang. Màu sắc vỏ lụa (vỏ hat) tùy giống: trang, hồng nhạt, đỏ tím. Có vân hoặc không, ít bị điều kiện ngoại cảnh chi phối và có hạn chế khi ép dầu phải tây màu.
Màu sắc hạt quan sát sau khi phơi khô, bóc vỏ mới chính xác. Số hạt trong một quả từ 1 — 6 hạt, phần lớn 2 hạt, quả có | hạt tùy thuộc 5 điều kiện ngoại cảnh. Số quả có 3, 4, 5 hạt phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống. Trong một quả, hạt ở ngăn trước dài, bé, hạt ở ngăn sau ngắn, to.
Tỉ lệ nhân từ 68 — 80%, thay đổi tùy giống và điều kiện canh tác. Độ lớn, hình dang, mau sắc hạt thay đổi tùy giống. Khối lượng một hạt có thé biến đổi từ 0,2 — 2 g. Diéu kién ngoại cảnh anh hưởng lớn đến khối lượng hạt.
Hạt đậu phụng có tính miên trạng, giống tốt phải có tính miên trạng cao. Chọn giống vỏ mỏng, nhiều quả, nhiều hạt, hạt to có ý nghĩa tăng năng suất.2 Tiêu chuẩn một giống đậu phụng tốt Giống đậu phụng tốt là giống cho năng suất cao, chất lượng nông sản tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh cao. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất chúng ta chưa tạo ra được những giống có đầy đủ cả 3 đặc điểm như vậy. Những giống có năng suất cao thường chống chịu sâu bệnh kém và chất lượng nông sản không cao.
Những giống có đặc tính chống chịu sâu bệnh cao thường cho năng suất không cao va chất lượng nông sản không tốt. Vì vậy, dé đạt hiệu quả kinh tế cao cần chọn lựa giống thích hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng. Lựa chọn giống tốt, thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, điều kiện sản xuất ở từng địa phương, cho từng loại chân đất, đồng thời đảm bảo hạt giống đem gieo có tỉ lệ mọc mâm cao, khỏe và đêu.3 Tình hình nghiên cứu giống đậu phụng trên thế giới và trong nước 1.1 Tình hình nghiên cứu giống đậu phụng trên thế giới Varell và Me Cloud đã báo cáo về số giống đậu phụng được trồng hiện có ở những nước trên thế giới, không ké tập đoàn đặc biệt, các dòng lai biến dị thế hệ đầu, các đột biến tự nhiên và các giống địa phương, nhập nội đã có khoảng 30. Một số giống cây có nguồn gốc từ Viện ICRISAT đã được áp dụng ở An Độ với điện tích ước tính khoảng 500.
Tiến bộ đáng ké cũng đã được thực hiện ở Châu Phi. Giống ICGV-SM 90704 (kháng virut) có TGST trung ngày được trồng ở Ma-la-uy vào năm 2000. Giống đậu phụng Nyanda trở nên phố 6 biến ở vùng bị hạn hán ở Zimbabwe trên 10. Giống đậu phụng TGST ngắn ngày ICGV-SM 99537 (kháng virut ) được trồng phô biến giúp tăng cường sự ổn định của sản xuất đậu phụng ở miền nam châu Phi.
Giống có nguồn gốc từ Viện ICRISAT TGST ngắn ngày ICGS 36E đã được áp dụng trên 20. Một giống ICG 7878 (kháng bệnh trên lá) cũng đã được trồng phô biến ở vùng Kolokani của Mali. Myanmar chọn được giống đậu phụng ICGV 86699 kháng các bệnh thối trang thân, gi sắt, đốm lá. Ở An Độ đã đưa ra sản xuất các giống đậu phụng ICGV 86014, ICGV 86143, ICGV 88438, ICGV 91098 có hạt to va năng suất cao (FAOSTAT, 2003).
Ở Mỹ, theo một nghiên cứu của Gorbet Dan (2003) đã chọn tạo được các giống đậu phụng phục vụ cho sản xuất Dixie Runer, Floruner, NC Floria 14, Andru 93, SunOleic 97R, C-99R, GP-1, DP-1, Georgia 02C, AP-3, VA98R. Theo nghiên cứu cua Ajay (2006) tại Trung Quốc đã chon tao được trên 200 giống đậu phụng mới, đã được giới thiệu và sử dụng trong sản xuất như các giống Xuzhou 68-4, Fuhuasheng, Shixuan64, Luhua9, Luhual4, Yuhua6, Tianfu9. Tại Uc, theo nghiên cứu của Johnny va ctv (2006) đã chọn được các giống giống ICGV93059, ICGV94049, ICGV96470 dat năng suất từ 3,5 — 4,6 tan/ha va ICGV94341, ICGV94299 đạt năng suất từ 4,4 — 5,9 tan/ha thích hợp với khí hậu cao nguyên Papua New Guinea. Việc nghiên cứu chon tạo giống đậu phụng đã được triển khai ở nhiều nước trồng và xuất khẩu đậu phụng trên thế giới như Mỹ, Úc, Trung Quốc, Ấn Độ.
ICRISAT là Viện nghiên cứu lớn nhất về cây đậu phụng, tính đến năm 1993 đã thu thập được 13.915 lượt mẫu giống từ 89 nước trên thế giới. Cùng với việc thu thập. đánh giá, bảo quản, ICRISAT đã chọn được nhiều giống đậu phụng mới có năng suất cao ICGV-SM83005, ICGV 91098, ICGV 86014, các giống đậu phụng chín sớm ICGV 86015, ICGS (E) 52, ICGV 86062, các giống chống chịu tốt ICGS (E) 22, ICGV (E) 61 khi đưa ra trồng ở các nước đã phát huy rất tốt, cho năng suất cao (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Hiên, 2008). Dự án cây họ đậu nhiệt đới trải qua ba giai đoạn.