Chương 1 trình bày vài nét về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn qua các quan niệm của một số học giả thế giới, Nhật Bản và ở Việt Nam. Chương 2 mô tả cấu trúc nghĩa của từ だけ (dake) và しか (shika) trong tiếng Nhật thông qua các kết hợp trong sử dụng. Chương 3 phân tích, đối chiếu từ だけ (dake) và しか (shika) trong tiếng Nhật và với từ “chỉ” trong tiếng Việt có nghĩa tương đương. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong phần này chúng tôi xin trình bày về tình hình nghiên cứu của vấn đề qua quan điểm của các học giả thế giới, Nhật Bản và Việt Nam.1 Những nghiên cứu liên quan đến từ だけ (dake),しか (shika) trong tiếng Nhật Nghiên cứu về だけ (dake),しか (shika) trong tiếng Nhật đã có một số công trình như sau: dẫn theo「日本研究者育年報 15」2011:p57) Teramura Hideo 寺村秀夫 (1991:165) nghiên cứu phân tích だけ (dake),し か (shika) từ khía cạnh cú pháp và ngữ nghĩa, đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng.
Sự khác biệt về ý nghĩa chức năng giữa だけ (dake), しか (shika). Ông cho rằng だけ (dake) trong cấu trúc “X dake P”, X là nội dung được đề cập trước だけ (dake) và sử dụng trong câu khẳng định P. Từ しか (shika) trong cấu trúc “X shika P nai”, ngoài đề cập đến đối tượng là X trước しか(shika) thì nó phủ định hết các đối tượng khác là P và được sử dụng trong câu phủ định. (1) 百円 だけ ある。 (Phiên âm: hyakuen dake aru) (Tạm dịch: Chỉ có một trăm yên.) (2) 百円 しかない1。 (Phiên âm: hyakuen shika nai) (Tạm dịch: Chỉ một trăm yên.) Cùng có một ý nghĩa là “chỉ có một tră yên” mà ở câu (1) tác giả sử dụng だけ (dake) và động từ ở dạng khẳng định là ある(aru - có, đó là thể nguyên mẫu của động từ) để nói lên tiền còn lại thì có một trăm yên nhưng nó vẫn đủ để làm cái gì đó).
Ngược lại câu (2) tác giả sử dụng しか shika) và động từ ở dạng phủ định 1 Động từ ある(có), khi chia sang thể phủ định là ありません(không), còn thể ngắn của ありません là ない(không có). 7 ない, tiền còn lại thì chỉ còn một trăm yên nên không đủ. Như vậy, cùng ý nghĩa nhưng だけ (dake) được dùng trong cấu trúc khẳng định,しか shika) được dùng trong cấu trúc phủ định. Theo Numata Yoshiko 沼田喜子(1992): (3) 新聞 だけ を 読む。 (Phiên âm: shinbun dake wo yomu) (Tạm dịch: Tôi chỉ đọc báo.) (4) 新聞しか 読まない。 (Phiên âm: shinbun shika yomanai) (Tạm dịch: Tôi chỉ đọc báo.) (沼田,1992:p20(不線は引用者) Ông cho rằng ở câu (3) và (4) cùng biểu hiện nghĩa là đọc báo.
Khi sử dụng hai câu này thì người nghe sẽ hiểu là vào thời điểm đó, những loại khác, những thứ cùng loại với tờ báo như tạp chí thì không đọc. Nhưng trường hợp câu (3) nói lên là tôi chỉ đọc báo, mà không đưa cảm xúc vào. Còn しか~ない (shika~nai) trong câu (4) được sử dụng khi nhấn mạnh sự khó khăn, hối tiếc; nếu sử dụng だけ (dake) sẽ không phù hợp trong trường hợp này. Trong ví dụ (5) và 6) sau đây: (5) 財布の中に 5千円しか入っていなかったので、7千円シャツは 買 えませんでした。 (Phiên âm: saifu no nakani gosenen shika haitteinakattanode, nanasenen shatsu wa kaemasendeshita) (Tạm dịch: Vì tôi chỉ bỏ vào bóp có 5 ngàn yên, nên tôi không thể mua cái áo 7 ngàn yên.) (6) 財布の中に 5千円だけ入っていたので、7千円シャツは 買えませ んでした。 (Phiên âm: saifu no nakani gosenen dake haitteitanode, nanasenen shatsu ha kaemasendeshita) 8 (Tạm dịch: Vì tôi chỉ bỏ vào bóp có 5 ngàn yên nên tôi không thể mua cái áo 7 ngàn yên.) (沼田,1992:p22 (不線は引用者)) Ông nhận định rằng khi sử dụng しか~ない (shika ~ nai) trong câu 5) để thể hiện sự hối tiếc là không có đủ 7 ngàn yên để mua.
Trong câu (6) không thể hiện sự hối tiếc nên sử dụng だけ(dake) sẽ phù hợp hơn. Theo Iori Isao 庵雄功 (2001), cả hai cấu trúc X だけ(dake) và X しか~ない (shika~nai) đều mang nghĩa loại trừ những thứ ngoài X. Nhưng だけ(dake) có một biểu hiện khác và し か (shika) cũng có một biểu hiện khác; X し か ~ な い (shika~nai) biểu hiện sự hối tiếc, như trong ví dụ (7) và (8) sau: (7) 私は 大学で 中国に 関する総合的な 知識を 身につけ、卒業後 は 中国関係の 研究になりたいと 思っています。大学1年生のときは 中国語だけを 勉強しました。2年生の 今年は 中国史を 勉強しまし た。 (Phiên âm: watashi wa daigakude chuugoku ni kansuru sougou tekina chishiki wo minitsuke, sotsugyougoha chuugoku kannkei no kennkyuu ni naritaito omotteimasu. Daigaku ichi nensei no toki wa chuugokugo dake wo benkyou shimashita.
ninensei no kotoshiha chuugokushi wo benkyoushimashita) (Tạm dịch: Tôi muốn học hỏi kiến thức tổng hợp liên quan đến Trung Quốc ở trường đại học. Sau khi tốt nghiệp tôi nghĩ là tôi muốn trở thành một nhà nghiên cứu liên quan đến Trung Quốc. Khi học năm thứ nhất tôi chỉ học tiếng Trung. Năm nay học năm hai tôi đã học lịch sử Trung Quốc.) Ví dụ: (8) 私は 中国が 好きで、大学も中国語科学に 入いりました。大学1 年生のときは 中国語しか 勉強しませんでした。しかし、専門の 授業 では 英語の文献を 読むことも多いので、 いまちょっと困っています。 (Phiên âm: watashi wa chuugoku ga sukide, daigakumo chuugokugo kagakuni hairimashita.
Daigaku ichinensei no tokiha chuugokugo shika 9 benkyoushimasendeshita. Shikashi, senmon no jugyou dewa eigo no bunken wo yomukotomo ooinode, ima chotto komatteimasu.) (Tạm dịch: Tôi thích Trung Quốc nên tôi đã đăng ký khóa học tiếng Trung ở trường Đại học. Khi năm nhất trường Đại học thì tôi chỉ học tiếng Trung Quốc. Thế nhưng, trong giờ học chuyên môn thì vì tôi chỉ đọc nhiều sách về ngữ văn Anh, nên bây giờ tôi rất lo.) (庵, 2001:p185) Theo tác giả, ví dụ (7) và (8) không bao hàm sự hối tiếc, thất vọng nên だけ (dake) và しか (shika) được sử dụng như thế nào cho phù hợp sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh sử dụng.
Qua một số ngữ liệu mà chúng tôi khảo sát trong câu (9) và (10) (9) 短所 しかないと感じている。 (Phiên âm: tansho shikanai to kanjiteiru) (Tạm dịch: Cảm thấy mình chỉ có nhược điểm.) (21-PL2) (10) 変えられるとしたら、それは未来だけです。 (Phiên âm: kaerarerutoshitara, sore wa shorai dakedesu) (Tạm dịch: Nếu có thể thay đổi được gì thì chỉ có thể là tương lai.) (179-PL2) Câu (9) bản thân cậu thanh niên chỉ thấy mình chỉ có nhược điểm mà ưu điểm không có, nên anh thanh niên cảm thấy không có động lực gây ra cảm giác chán nản nên sử dụng しか (shika) là phù hợp. Câu 10) đề cập đến tương lai mà không kèm theo cảm xúc nào sử dụng だけ (dake) là phù hợp. Qua đây, theo chúng tôi khi sử dụng だけ(dake) sẽ chỉ đối tượng trước だけ(dake); khi dùng しか (shika) ngoài chỉ đối tượng trước しか (shika) mà nó còn phủ định hết các đối tượng khác và kèm theo những cảm xúc, tâm trạng của người nói. 10 Theo Sawada Mieko 澤田恵美子 (2007), だけ(dake) chỉ có thể sử dụng trong điều kiện đủ được sử dụng cho mệnh đề phủ định.
しか~ない (shika~nai) có thể sử dụng được sau số lượng. Cụ thể trong các trường hợp sau: A. だけ (dake) được sử dụng trong câu điều kiện. しか~ない (shika~nai) thì không sử dụng.
Như trong ví dụ (11) và (12): (11) それ だけ あれば、十分だ。 (Phiên âm: koredake areba, juubunda) (Tạm dịch: Nếu chỉ có từng này thì đủ.) (12) それ しか なければ2、十分だ。(-) (Phiên âm: koreshika nakereba, juubunda) (Tạm dịch: Nếu chỉ có từng này thì đủ.) Câu 11) là câu điều kiện (ば) dùng để diễn đạt việc gì hay hành động nào đó sẽ xảy ra trong một điều kiện nhất định, sử dụng だけ(dake) là phù hợp. Nhưng trường hợp câu (12) sử dụng しか(shika) sẽ không phù hợp. Nếu vẫn muốn sử dụng しか shika) như trong câu 12) thì phải kết hợp thêm vị ngữ (述語) phía sau: 仕方 がない (không còn cách nào khác) hoặc あきらめる (từ bỏ, bỏ cuộc). しか~ない (shika~nai) không sử dụng để biểu hiện những yêu cầu thông thường, trừ những ngữ cảnh đặc biệt, như trong ví dụ (13) và (14): (13) こども だけ は 助けてください。 (Phiên âm:kodomo dake wa tasuketekudasai) (Tạm dịch: Xin hãy giúp đỡ những đứa trẻ.) (14) こども しか 助けないでください。(-) (Phiên âm: kodomo shika tasukenaidekudasai) (Tạm dịch: Xin hãy giúp đỡ những đứa trẻ.) Cấu trúc てください được dùng để khi muốn nhờ vả, yêu cầu hoặc khuyên nhủ ai làm gì đó.
Cấu trúc ないでください mang nghĩa là “xin đừng”, được dùng 2 ~ば (ba) là thể điều kiện (条件形) nhằm diễn đạt việc gì/ hành động gì sẽ xảy ra trong một điều kiện nhất định. Cách chia sang thể điều kiện đối với động từ thể phủ định sẽ là nakereba (ない→なければ)。 11 khi muốn yêu cầu ai đừng làm một việc gì đó. Câu 13) là câu khẳng định, người nói yêu cầu người nghe hãy giúp đỡ bọn trẻ nên sử dụng だけ (dake) là phù hợp. Câu (14) có ないでください.
Nên trong câu (14) cùng sử dụng しか (shika) và cấu trúc ないでください thì sử dụng しか (shika) ở đây là không phù hợp.しか~ない (shika~nai) thì có thể sử dụng sau lượng từ, còn だけ (dake) thì không sử dụng, như trong ví dụ (15) và (16) (15) 今日は お金を いくらか しか もってない。 (Phiên âm: kyo wa okane wo ikuraka shika mottenai) (Tạm dịch: Hôm nay thì tôi chỉ mang theo một ít tiền.) (16) 今日は お金を いくらか だけ 持っている。(-) (Phiên âm: kyowa okane wo ikuraka dake motteiru) (Tạm dịch: Hôm nay thì tôi chỉ mang theo một ít tiền.) Trong câu (15) có sử dụng lượng từ là いくらか nên sử dụng しか (shika) là phù hợp. Trong câu (16) có sử dụng lượng từ là いくらか nên sử dụng だけ (dake) là không phù hợp.だけ (dake) cũng được dùng trong mệnh đề phủ định, như trong ví dụ (17), (18) và (19): (17) 太郎 だけ 来なかった。 (Phiên âm: tarou dake konakatta) (Tạm dịch: Chỉ có Taro không đến.) (18) 太郎 しか 来なかったのではない。 (Phiên âm: tarou shika konakatta nodehanai) (Tạm dịch: Chỉ có Taro không đến.) (19) 太郎 しか 来なかったない。(-) (Phiên âm: tarou shika konakattanai) (Tạm dịch: Chỉ có Taro không đến) (澤田, 2007:p97) 12 Câu (17) là dạng phủ định 来なかった đã không đến) nên sử dụng だけ (dake) là phù hợp. Câu 18) cũng là dạng phủ định, sử dụng しか (shika) và sử dụng cấu trúc のではない có thể giải thích cho vị ngữ là phủ định, nên cách nói này vẫn diễn đạt được ý nghĩa. Câu 19) しか (shika) theo cách này động từ 来なかった đã không đến) và ない nghĩa là không) thì câu không biểu hiện được nghĩa.
Liên quan đến だけ(dake), しか (shika), nhà nghiên cứu Ootsuki Fumihiko3 大槻文彦 đã đưa ra hai cách phân loại khác nhau: Cách phân loại thứ nhất, dựa trên cách sử dụng trợ từ, ông chia “て-に-を-は” “te-ni-wo-ha” thành ba nhóm: Nhóm 1: Các trợ từ chỉ liên kết với danh từ - gọi là tĩnh từ “て(te)-に(ni)-を(wo)-は (ha)”: 1-が ga) nhưng); 2-の (no) (của, sở hữu); 3-に(ni) (chỉ mục đích, chỉ thời điểm diễn ra hành động, chỉ địa điểm có sự vật, sự việc hiện hữu, chỉ số lần thực hiện hành động, chỉ đối tượng gián tiếp của hành động nghĩa là người nhận); 4-を (wo) (nhấn mạnh tân ngữ); 5-と(to) (và, với),も mo) cũng); 6-へ(he) (chỉ địa điểm mà hành động hướng đến); 7-より yori) hơn), から(kara) (từ, biểu thị nguyên nhân);8-まで made) đến, cho đến khi).