So Sánh Đặc Điểm Giao Tiếp Giữa Học Sinh Thiếu Niên Sống Tại Mái Ấm Và Gia Đình

Khóa luận phân tích đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên tại mái ấm và gia đình ở TP Hồ Chí Minh, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tâm lý.

Chuyên ngành

Tâm Lý Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2005

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề giao tiếp

1.2. Các công trình nghiên cứu chung về giao tiếp

1.3. Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên

1.4. Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ lang thang, mồ côi

1.5. Khái niệm chung về giao tiếp trong tâm lý học

1.6. Vai trò và chức năng của giao tiếp

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi

2.3. Phương pháp phỏng vấn

2.4. Phương pháp toán thống kê

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình

3.1.1. Nhu cầu giao tiếp

3.1.2. So sánh một số đặc điểm giao tiếp giữa các thiếu niên theo địa điểm sống

3.1.3. Đối tượng giao tiếp

3.1.4. Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt một số đặc điểm giao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình

3.2. Một số biện pháp giáo dục nhằm mở rộng các mối quan hệ giao tiếp của thiếu niên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đặc Điểm Giao Tiếp Giữa Học Sinh Thiếu Niên

Giao tiếp là một phần thiết yếu trong sự phát triển của học sinh thiếu niên. Đặc biệt, đặc điểm giao tiếp giữa học sinh sống tại mái ấm và gia đình có nhiều điểm khác biệt. Nghiên cứu này nhằm làm rõ những khác biệt này, từ đó giúp các nhà giáo dục hiểu rõ hơn về tâm lý và nhu cầu giao tiếp của học sinh. Việc nắm bắt được đặc điểm giao tiếp của thiếu niên sẽ hỗ trợ trong việc xây dựng môi trường học tập và phát triển phù hợp.

1.1. Khái Niệm Giao Tiếp Trong Tâm Lý Học

Giao tiếp được định nghĩa là quá trình trao đổi thông tin giữa các cá nhân. Trong tâm lý học, giao tiếp không chỉ là việc truyền đạt thông tin mà còn là cách thức hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội. Đặc biệt, mối quan hệ gia đình có ảnh hưởng lớn đến cách thức giao tiếp của học sinh.

1.2. Vai Trò Của Giao Tiếp Đối Với Học Sinh Thiếu Niên

Giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển tâm lý của học sinh thiếu niên. Nó giúp các em xây dựng mối quan hệ xã hội, phát triển kỹ năng giao tiếp và tăng cường sự tự tin. Tâm lý học sinh thiếu niên cho thấy rằng giai đoạn này là thời điểm quan trọng để phát triển các kỹ năng xã hội.

II. Vấn Đề Giao Tiếp Của Học Sinh Thiếu Niên Sống Tại Mái Ấm

Học sinh sống tại mái ấm thường gặp nhiều thách thức trong giao tiếp. Họ có thể thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, dẫn đến những đặc điểm giao tiếp khác biệt so với những học sinh sống tại gia đình. Việc thiếu vắng sự chăm sóc từ cha mẹ có thể ảnh hưởng đến cách thức các em tương tác với người khác.

2.1. Những Khó Khăn Trong Giao Tiếp

Học sinh sống tại mái ấm thường gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ với bạn bè và người lớn. Họ có thể cảm thấy cô đơn và thiếu tự tin trong giao tiếp. Điều này dẫn đến việc các em có xu hướng thu mình lại và ít tham gia vào các hoạt động xã hội.

2.2. Tác Động Của Môi Trường Sống Đến Giao Tiếp

Môi trường sống tại mái ấm có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý học sinh thiếu niên. Các em có thể cảm thấy thiếu thốn tình cảm và sự quan tâm, điều này ảnh hưởng đến cách thức họ giao tiếp với người khác. Sự thiếu hụt này có thể dẫn đến những hành vi lệch chuẩn trong giao tiếp.

III. Đặc Điểm Giao Tiếp Của Học Sinh Thiếu Niên Sống Tại Gia Đình

Học sinh sống tại gia đình thường có những đặc điểm giao tiếp khác biệt so với những em sống tại mái ấm. Họ thường có sự hỗ trợ từ cha mẹ và các thành viên trong gia đình, điều này giúp họ phát triển kỹ năng giao tiếp tốt hơn. Đặc điểm giao tiếp của thiếu niên sống tại gia đình thường thể hiện sự tự tin và khả năng tương tác xã hội cao.

3.1. Sự Hỗ Trợ Từ Gia Đình

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kỹ năng giao tiếp của học sinh. Sự hỗ trợ từ cha mẹ giúp các em tự tin hơn trong việc giao tiếp với bạn bè và người lớn. Điều này tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển tâm lý của các em.

3.2. Mối Quan Hệ Với Bạn Bè

Học sinh sống tại gia đình thường có mối quan hệ bạn bè phong phú hơn. Họ có thể dễ dàng tham gia vào các hoạt động xã hội và xây dựng mối quan hệ bền vững. Điều này giúp các em phát triển kỹ năng giao tiếp và tăng cường sự tự tin trong các tình huống xã hội.

IV. So Sánh Đặc Điểm Giao Tiếp Giữa Hai Nhóm Học Sinh

Việc so sánh đặc điểm giao tiếp giữa học sinh sống tại mái ấm và gia đình giúp làm rõ những khác biệt trong nhu cầu và cách thức giao tiếp. Các nghiên cứu cho thấy rằng học sinh sống tại mái ấm thường có nhu cầu giao tiếp cao hơn nhưng lại gặp khó khăn trong việc thực hiện điều này.

4.1. Nhu Cầu Giao Tiếp

Học sinh sống tại mái ấm có nhu cầu giao tiếp cao nhưng thường không được đáp ứng đầy đủ. Ngược lại, học sinh sống tại gia đình có nhu cầu giao tiếp được thỏa mãn tốt hơn nhờ sự hỗ trợ từ gia đình.

4.2. Đối Tượng Giao Tiếp

Học sinh sống tại mái ấm thường giao tiếp chủ yếu với bạn bè và giáo viên, trong khi học sinh sống tại gia đình có thể giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm cả cha mẹ và người thân. Điều này tạo ra sự khác biệt trong cách thức và nội dung giao tiếp của hai nhóm học sinh.

V. Phương Pháp Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh

Để cải thiện đặc điểm giao tiếp của học sinh sống tại mái ấm, cần có những phương pháp giáo dục phù hợp. Việc xây dựng chương trình giáo dục tập trung vào kỹ năng giao tiếp sẽ giúp các em phát triển tốt hơn trong môi trường xã hội.

5.1. Chương Trình Giáo Dục Kỹ Năng Giao Tiếp

Cần thiết lập các chương trình giáo dục tập trung vào việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Các hoạt động nhóm, trò chơi giao tiếp và các buổi thảo luận sẽ giúp các em tự tin hơn trong việc giao tiếp.

5.2. Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Học Sinh

Cung cấp hỗ trợ tâm lý cho học sinh sống tại mái ấm là rất quan trọng. Các buổi tư vấn tâm lý có thể giúp các em giải quyết những vấn đề tâm lý và cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình.

VI. Kết Luận Về Đặc Điểm Giao Tiếp Của Học Sinh Thiếu Niên

Nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp giữa học sinh sống tại mái ấm và gia đình cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong nhu cầu và cách thức giao tiếp. Việc hiểu rõ những khác biệt này sẽ giúp các nhà giáo dục có những biện pháp phù hợp để hỗ trợ học sinh phát triển tốt hơn.

6.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về giao tiếp của học sinh thiếu niên. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp của học sinh.

6.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Giáo Dục

Cần thiết lập các giải pháp giáo dục nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp cho học sinh sống tại mái ấm. Việc này không chỉ giúp các em phát triển tốt hơn mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực hơn.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn dé tài Các Mác đã nói rằng: “Sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân mà nó giao tiếp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với họ” (thea Pham Minh Hạc | I1,489]). Cho nên, cùng với hoạt động, giao tiếp là một con đường quan trong trong việc hình thành và phái triển nhân cách. Hiểu rõ về đặc điểm giao tiếp của con người giúp ta biết được một số thông tin vẻ nhận thức, tình cảm cũng như nhân cách của họ. Đặc biệt là lửa tuổi thiếu niên, lửa tuổi có nhiễu biến động vé tâm sinh lý với hoạt động chủ đạo là giao tiếp nhóm.

Vi vậy, tìm hiểu về đặc điểm giao tiếp của lứa tuổi này là điểu cẩn thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các nhà giáo dục nắm bat được những chuyển biến tâm lý của thiếu niên. Mặt khác, hơn mười năm trở lại đây dưới sự tác động của nên kinh tế thị trường, các giá trị, giếng mối của gia đình trở nên lỏng lẻo, Hậu quả là sổ cặp vợ chẳng ly hôn tăng lên đáng kể, kéo theo đó là những đứa trẻ bỏ nhà đi lang thang. Vì chúng không chịu được sự mâu thuẫn của bố mẹ, cũng như thiếu thốn sự chăm sóc chu dao của gia đình. Hậu quả thứ hai của nền kinh tế thị trường là sự phân hoá giầu nghèo diễn ra nhanh chóng, Ở những vùng qué nghèo, các gia đình đông con làm không đủ nuôi mấy miệng an, Chính vì thế cả gia đình hoặc chỉ có trẻ ra thành phố để kiếm sống.

Đó là hai nguyên nhãn chính trong các nguyên nhân làm số lượng trẻ em lang thang ở các đồ thị lớn tăng lên : gia đình tan vỡ và nghèo đói |6,26]. Theo một số nghiên cứu thì độ tuổi trẻ em lang thang ở Việt Nam từ khoảng -_12- 15 tuổi là phổ biến, độ tuổi dưới 12 khoảng 7 - 8% [36] Hiện nay, các chương trình, các tổ chức bảo vệ trẻ em ở Việt Nam phát triển rất mạnh, kể cả trong và ngoài nước. Do đó, các em được tập trung vào sống, học tập ở các Mái ấm, Nhà mở, Trung tâm chăm sóc tré.Tré sinh hoạt, học tập ở Mái ấm đến cuối tuần; một hoặc hai tháng; lễ: Tết; hè trẻ được người thân đón vé gia đình, sau đó trẻ trở lại Mái ấm để tiếp tục học tập, Sống trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, tâm lý của trẻ sống tại Mái ấm sẽ có những đặc điểm rất khác so với trẻ sống tại gia đình, đặc biệt là cách cư xử với mọi ngưỡi xung quanh, trong suy nghĩ, hành vi con nhiều chỗ lệch chuẩn. Trong khi đó GDV ở Mái ấm không thể thay thé cha mẹ để uốn nắn cho các em.

Đẳng thời xuất phát từ thực tế của ban thân người nghiên cứu đã tham gia day phụ đạo, sinh hoạt với các em ở Mái ấm Anh sáng Q.3 trong khoảng thời gian 3 năm. Vi thé, người nghiên cứu nhận thấy những bất Gn trong tâm lý của các em, mong muốn có một nghiên cứu cụ thể để hiểu các em hơn. Trên cử sử kết quả nghiên cứu được, người nghiên cứu để xuất những biện pháp giáo dục giúp các em phát triển tam lý bình thường và trở thành những người công dân có ích cho xã hội, Tif những lý do nêu trên việc nghiên cứu vấn để ; “So sảnh một số đặc điểm giao tiép pita hoc sinh thiểu niên sống tại Mdi ấm và sẵng tại gia đình ở TP.HCM" là một việc làm thiết thực và cần thiết.Muc đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng và so sánh một số đặc điểm giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tại gia đình, trên cơ sở đó để xuất một số biện pháp giáo dục giúp các em sống tại Mái ấm phát triển nhân cách tốt hon, 3, Đối tượng nghiên cứu 31). Péi tượng nghiên cứu + Nhu cầu giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và gia đình.

+ Nội dung giao Liếp của học sinh thiểu niên sống tại Mái ấm và gia đình + Đối tượng giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và gia đình. Khách thể nghiên cửu Bảng 1.1: Số lượng khách thể nghiên cửu | Trường/ Mái ấm Sốlượng ˆ Học sinh thiếu | THCS Nguyễn Tri Phương Q 10 181 | nién song tat 7 THCS Tran Danh Ninh Q 8 63 gia đình Mái ấm nữQ 10 a Mái ấm Hướng Dương Q 6 | 10 | Học sinh hiểu : Mái ấm Binh Minh Q 4 62 nién sẵng tại. Mái dim Mai am nam Q 10) | Mai ấm Tân Binh II | Mái ấm Q 8 7 l0 | -7 | | Tang 299 4.Gidi hạn phạm vi nghiên cứu 4.1 Nội dung: Vấn dé giao tiếp có nhiều đặc điểm khác nhau, nhưng trong nghiên cứu này chỉ tìm hiểu 3 đặc điểm: + Nhu cầu giao tiếp của học sinh thiếu nién sống tại Mái ấm và sống tại gia đình + Bãi tưởng giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống Lại gta đình + Nội dung giao tiếp của học sinh thiếu niên sống tại Mái ấm và sống tai gia đình 4.2 Khách thể: Thiếu niên tuổi từ 12 - 15 tuổi trên cơ sử chọn ngẫu ohién ở + 2 truding THCS tại Q.10 +6 Mái ấm tiến nhận trẻ lang thang, trẻ mỗ côi, trẻ bi bd rei, trẻ em nghèu cộng đẳng như đã néu trên, 5.Gia thuyết nghiên cứu: Theu T. Đragunova : "Hoạt động chủ đạo của tuổi thiếu niên là giao tiếp” [14.

Thiếu niên có nhu cầu mở rong quan hệ với người lớn và mong muốn xây dựng lại mối quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa người lớn và các em. Còn mỗi quan hệ với bạn hè cùng tuổi thì da dang và phức tạp hơn nhiều so với học sinh tiểu học. Chính vì thế, học sinh thiếu niên dù sống tại Mái ấm hay sống tai gia đình đến lứa tuổi này đều cá như cau giao tiếp theo đúng sự phát triển của tâm lý lửa tuổi. Đồng thời, căn cứ vào kết quả một số nghiên cứu gần đây của Nguyễn Quang Uẩn (2000) [411 và Nguyễn Xuân Thức (2000) [36] về tâm lý trẻ em lang thang và trẻ em mỗ côi ở lứa tuổi thiếu niên déu khẳng định các em có nhu cẩu giao tiếp ở mức độ cao đối với bạn cũng như đối với mọi người.

Đây là hai trong nhiều đối tượng trẻ được nhận vào sống ở các Mái ấm. Vẻ đối tượng giao tiếp thì theo kết quả nghiên cứu ở học sinh thiểu niên của Đỗ Thị Hạnh Phúc (1998) [31], các em có mức độ tiếp xúc khác nhau với các đối tượng. Cụ thể cao nhất vẫn là bạn, sau đó là cha, mẹ, anh chị của mình. Tuy nhiên trẻ ở Mái ấm không sống với người thân, ma sống với các bạn có cùng hoàn cảnh và thay cô GDV.

Vì vậy mức độ giao tiếp với các đối tượng sẽ không hoàn luàn giống như trẻ sống tại gia đình. Vẻ nội dung giao tiếp, HSTN sống tại gia đình và HSTN sống tại Mái ẩm vẫn có những điểm giống nhau do đặc điểm của lứa tuổi. Song do địa điểm sống khác nhau nẻn có những nội dung giao tiếp HSTN sống tại giá đình quan tâm nhiều nhưng HSTN sống tại Mái ấm lại không quan tâm đến. hoặc ngược lại Và qua - nghiên vứu của tác giả Nguyễn Xuân Thức (2800) như nói ở trên cũng cho thấy có sự khác nhau về nội dung giao tiếp giữa trẻ hình thường và trẻ mo côi, Từ cde căn cứ trên người nghiên cứu đưa ra những giả thuyết nghiên cửu sau day: 5.1 Không có sự khắc biệt về nhu cau giao tiếp giữa HSTN sống tai Mái ấm và sống tại gia đình, 5.2 Có sự khác biệt về đối tượng giao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình.

5,3 Nội dung giao tiếp có sư khác biệt theo địa điểm sống và giới tính của HSTN.Nhiém vụ nghiên cứu 6.1 Nghiên cứu một số vấn để lý luận về giao tiếp : khái niệm giao tiếp, vai trò và chức năng của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhãn cách, đặc điểm giao tiếp; đặc điểm giao tiếp của HSTN sống tại gia đình; đặc điểm giao tiếp của HSTN sống tại Mái ấm.2 Tìm hiểu thực trạng về nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp của HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình.3 So sánh nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp theo địa điểm sống và giới tính của khách thể nghiên cứu.4 Tìm hiểu nguyên nhân của sự khác biệt về nhu cẩu, nội dung, đối tượng giao tiếp giữa HSTN sống tại Mái ấm và sống tại gia đình.5 Để xuất một số biện pháp giáo dục giúp HSTN sống tại Mái ấm có diéu kiện phát triển tầm lý, nhân cách tốt hơn. Phương pháp nghiên cứu 7.1 Nghiên cứu lý luận 7.2 Điều tra bằng phiếu câu hỏi 7.4 Xử lý số liệu bằng toán thống kê — phan mềm SPSS 11.5 -6- PHAN II: NOI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1,1.Vài nét lich sử nghiên cứu vấn dé giao tiếp Hiển nay, giao tiếp là một trong những phạm trù cơ bản của Tâm lý học, đồng thời nó cũng là đối tương nghiên cứu của nhiễu ngành khoa học khác. Vấn để giao tiếp được nghiên cứu từ rất sớm ngay từ thời cổ đại, nhưng các nghiên cứu khoa học đi sâu vào bản chất của giao tiếp thì chỉ mới bat đầu từ giữa thế kỷ XX. Quả thật, đây vẫn là vấn để còn mới mẻ trong khoa học nói chung và trong Tâm lý học nói riêng.Các công trình nghiên citu chung về giao tiếp 1.1 Các công trình nghiên cửu giao tiến ở nước ngoài Từ thời cổ đại, giao tiếp đã xuất hiện trong tự duy triết học của Socrate (470 — 399 TCN! và Platon (42% — 347 TCN).

Hai ông cho rằng đối thoại là sự giao tiếp trí tuệ của những người biết suy nghĩ. Song tác giá Lê Xuân Hỗng (1996) nhận xét : “Tư tưởng này trong xã hội Cổ đại chỉ tạo ra bước đầu tiên của việc hiểu biết giao tiếp mà thôi, vì trình độ phát triển nhãn cách và mỗi quan hệ giữa mọi người còn thấp, chưa đủ để vấn để giao tiếp của con người trở thành có ý nghĩa đích thực trong ý thức xã hai"| H9, 6| Đến thời kỳ Phục hưng, lan đầu tiên giao liến trở thành đối tượng nghiên cứu của nghệ thuật dude biểu hiện trong các truyện ngắn của Bocard, thơ trữ tình của ` Petdraki, và trong tác phẩm nghệ thuật của Lédna Đưvanhxi (1452 — 1512) cũng để cập đến giao tiến của mẹ con [2,7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ