CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHUẨN Mực KẾ TOÁN QUỐC TẾ VÀ HỆ THỐNG CHUẨN Mực KẾ TOÁN VIỆT NAM 1. Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế: 1. Lịch sử hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế 1.1 Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán quốc tế a. Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán quốc tế Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hình thành hàng loạt các công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động thương mại ngoài thế giới, các nhà đầu tư không chỉ hoạt động trong phạm vi khu vực mà còn mở rộng hoạt động ra phạm vi toàn thế giới.
Hoạt động kế toán không còn là vấn đề mang tính quốc gia mà cần phải được giải quyết ở tầm cỡ và quy mô quốc tế. Nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất chuẩn mực kế toán các quốc gia, nhằm tạo ra một ngôn ngữ chung về kế toán, nâng cao tính khách quan và tính có thể tin cậy được của thông tin tài chính, giúp cho thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính có thể hiểu và so sánh được. Muốn được như vậy đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống chuẩn mực chung, vì vậy hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được hình thành. Lợi ích của việc ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế > Lợi ích đối với các nhà đầu tư Các nhà đầu tư, cả nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức, sẽ có thể so sánh các kết quả tài chính của các công ty khác nhau nằm ở các nước khác nhau trên toàn thế giới cũng như đưa ra các quyết định đầu tư quốc tế một cách dễ dàng hơn và tốn kém ít chi phí hơn.
> Lợi ích đối với các công ty đa quốc gia - Các công ty đa quốc gia sẽ dễ dàng kêu gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài hơn. 5 6 - Quản lý cũng dễ dàng hơn với các công ty này do cùng được soạn thảo trên một chuẩn mực kế toán chung làm cho các thông tin tài chính được truyền tải giữa công ty con và công ty mẹ dễ dàng hơn. - Việc thâu tóm và sáp nhập các công ty nước ngoài cũng dễ dàng hơn. Các công ty đa quốc gia cũng có thể tuân thủ theo các yêu cầu về báo cáo của các sở giao dịch chứng khoán ở nước ngoài được thuận lợi hơn.
- Việc soạn thảo các báo cáo hợp nhất cấp tập đoàn sẽ không phải trải qua nhiều bước chuyển đổi từ báo cáo theo chuẩn mực kế toán quốc gia nơi công ty con đóng trụ sở sang báo cáo theo chuẩn mực kế toán nơi công ty mẹ đóng trụ sở. - Phí kiểm toán sẽ được giảm bớt do khi các báo cáo cùng được lập trên cùng một cơ sở thì sẽ tạo điều kiện cho kiểm toán kiểm tra nhanh hơn dẫn đến tốn ít thời gian và chi phí hơn. - Việc điều chuyển các nhân viên kế toán từ nước này sang nước khác sẽ trở nên dễ dàng hơn. > Lợi ích đối với các nước đang phát triển Chính phủ của các nước đang phát triển cũng sẽ tiết kiệm đươc thời gian nếu họ có thể sử dụng luôn các chuẩn mực kế toán quốc tế thay vì phải soạn thảo các chuẩn mực kế toán riêng cho quốc gia mình.
Nếu các quốc gia này sử dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế thì họ có thể kiểm soát tốt hơn hoạt động của các công ty đa quốc gia đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ của nước mình. Các công ty này không thể viện lý do là họ không thể hiểu bản chất của các chuẩn mực kế toán quốc gia nên không lập các báo cáo tuân theo các chuẩn mực. > Lợi ích đối với các cơ quan thuế Việc tính thuế cho các khoản thu nhập có nguồn gốc nước ngoài của các nhà đầu tư hay của các công ty đa quốc gia sẽ dễ dàng hơn. > Lợi ích đối với việc xúc tiến thương mại trong khu vực Các tổ chức kinh tế khu vực có thể đẩy mạnh giao thương trong một khu vực địa lý nhất định nhờ có các chuẩn mực kế toán chung làm nền tảng cho việc lập và cung cấp các thông tin kế toán được thống nhất.
Các nước trong khu vực khu tham gia buôn bán với nhau trong khu vực không phải mất thời gian và chi phí tìm hiểu, 6 7 nghiên cứu về chuẩn mực kế toán của nuớc kia và cũng không tốn chi phí phải chuyển đổi báo cáo từ chuẩn mực của nuớc này sang chuẩn mực của nuớc khác. Những rào cản đối với việc hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập những vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phuơng pháp có tính chất cơ bản đuợc chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, có thể áp dụng ngay ở những quốc gia phát triển và ở những quốc gia chua phát triển. Tuy nhiên, con đuờng quốc tế hóa kế toán không hề đơn giản, do sự khác nhau về qui định và cách thức hạch toán kế toán ở các nuớc cộng thêm sự khác biệt về hệ thống kinh tế và điều kiện thuơng mại dẫn đến sự khác nhau về mô hình và phuơng pháp kế toán giữa các quốc gia. Sự khác nhau này tạo nên nét đặc trung của hệ thống kế toán mỗi quốc gia, tuy nhiên nó cũng đem đến những rào cản đối với việc hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế, cụ thể là: (a) Sự khác biệt trong mục đích sử dụng báo cáo tài chính giữa các nuớc : ở một số nuớc báo cáo tài chính chỉ đơn thuần đuợc lập cho mục đích tính thuế, còn ở nuớc khác là để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của nhà đầu tu.
Điều đó sẽ khiến cho yêu cầu trình bày báo cáo chi tiết đến mức độ nào và chi tiết những khoản mục nào là khác nhau giữa các nuớc. (b) Do hệ thống pháp luật khác nhau dẫn đến sự hạn chế của một số hoạt động kế toán và điều này đuơng nhiên sẽ đuợc phản ánh trong các chuẩn mực kế toán. (c) Mỗi nuớc có một quan điểm khác nhau về nguời sử dụng báo cáo tài chính và tầm quan trọng của họ. Nhu ở Mỹ thì nhà đầu tu và các tổ chức tín dụng đuợc đặt uu tiên lên hàng đầu trong khi ở Châu Âu thì nguời lao động lại đuợc quan tâm nhiều hơn.
(d) Các nuớc đang phát triển hiển nhiên đang chậm chân hơn so với các nuớc đã phát triển trong việc soạn thảo các chuẩn mực kế toán. Có những quy tắc và những chuẩn mực cơ bản đã đuợc ban hành từ lâu ở các nuớc đã phát triển thì nay mới chỉ đuợc các nuớc đang phát triển tiến hành soạn thảo. (e) Chủ nghĩa quốc gia cũng góp phần ngăn cản việc sử dụng các chuẩn mực kế toán của nuớc khác. 7 8 (f) Sự khác biệt về văn hóa khiến cho mục tiêu của hệ thống kế toán khác nhau giữa các nuớc.
(g) Một vài nuớc phải ở vào trong những hoàn cảnh đặc biệt nhu siêu lạm phát, nội chiến, hạn chế luu thông tiền tệ,. tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội cũng nhu ảnh huởng lớn tới các công ty khiến cho họ không thể lập đuợc các báo cáo theo các tiêu chuẩn bình thuờng. (h) Một số nuớc không có một tổ chức kế toán độc lập đủ vững mạnh để tạo áp lực du luận giúp cho việc soạn thảo các chuẩn mực kế toán tốt hơn và thúc đẩy sự hài hòa về các nguyên tắc kế toán giữa các quốc gia. Sự hình thành và phát triển của tổ chức soạn thảo CMKT quốc tế a.
Ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) > Ra đời năm 1973 ở London, nước Anh: Năm 1973, Ủy ban xây dựng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) đã ra đời tại London, nuớc Anh với tu cách là tổ chức soạn thảo chuẩn mực quốc tế đầu tiên trên thế. Sự ra đời của IASC là kết quả của một thỏa thuận giữa các hiệp hội nghề nghiệp của các nuớc Australia, Canada, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Phần Lan, Anh, Ireland và Mỹ (bài viết international accounting standards committee) IASC đuợc thành lập trong một thời kỳ chứng nhiều biến động trong quy định kế toán. Ở Mỹ, hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) vừa mới đuợc thành lập. Ở Anh, cơ quan soạn thảo chuẩn mực quốc gia đầu tiên ra đời (accounting Standads committee - ASC).
Trong khi đó, EU đang soạn thảo những điểm chính trong kế hoạch hài hòa hóa hệ thống kế toán của riêng mình (đuợc đánh dấu bởi sự ra đời của chỉ thị số bốn (fourth directive) ban hành ngày 25/7/1978 bởi hội đồng liên minh Châu Âu ). UN và OECD tại thời điểm này cũng vừa mới thành lập hội đồng kế toán của riêng mình. > Giai đoạn nỗ lực để tồn tại như một tổ chức độc lập với IFAC và duy trì vai trò là tổ chức duy nhất soạn thảo các chuẩn mực kế toán quốc tế Đến năm 1977, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đuợc thành lập. IASC đã phải đấu tranh quyết liệt để kháng cự lại những nỗ lực muốn biến IASC thành thành viên của IFAC.
Cuối cùng, IASC phải đi đến một nhuợng bộ là dù cho IASB vẫn tồn tại 8 9 độc lập với IFAC nhưng các thành viên của IFAC tự động trở thành viên của IASC và IFAC có thể đề cử thành viên cho cơ quan soạn thảo các CMKT quốc tế. Cả UN và OECD trong giai đoạn những năm 70 của thế kỷ 19 đều rất tích cực soạn thảo những nguyên tắc kế toán quốc tế. Thế nhưng, IASC đã thành công trong việc thuyết phục UN và OECD hãy để IASC soạn thảo những nguyên tắc quốc tế về ghi nhận và xác định giá trị của các đối tượng kế toán. Như vậy, IASC đã thành công trong việc duy trì vai trò của mình là tổ chức soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế duy nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, IASC lại gặp khó khăn trong việc thuyết phục mọi người sử dụng các chuẩn mực do chính mình soạn thảo ra.