Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƢ Ở NƢỚC NGOÀI VÀ NGƢỜI NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NHÀ Ở, SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƢ Ở NƢỚC NGOÀI VÀ NGƢỜI NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm về nhà ở của ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam Nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng được coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn mặc để giúp con người có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Luật Nhà ở năm 2005 và Nghị định số số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2005 đưa ra khái niệm nhà ở là "công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân" [29, Điều 1].
Như vậy, để được coi là nhà ở thì cần có những điều kiện, yếu tố [17]: Thứ nhất, nhà ở phải là công trình xây dựng do con người tạo lập nên bằng công sức lao động kết hợp với các loại vật liệu xây dựng, thiết bị gắn với nhà ở thông qua các biện pháp khoa học, kỹ thuật để xây dựng (phải là công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng). Thứ hai, công trình xây dựng này được xây dựng để phục vụ nhu cầu ở và các nhu cầu sinh hoạt thường xuyên khác của hộ gia đình, cá nhân như: để duy trì cuộc sống, là không gian văn hóa của một tập hợp người có quan hệ gia đình (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng) cùng ở trong một nhà, là nơi thờ cúng tổ tiên, nơi giao lưu, gặp gỡ các thành viên của nhiều thế hệ, của dòng họ, phục vụ yêu cầu duy trì nòi giống…. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên thực tế, vẫn có sự nhầm lẫn giữa nhà ở với chỗ ở, nơi cư trú như nhà trên thuyền, nhà nổi…Tuy nhiên, đó không được coi là nhà ở vì không đáp ứng được tiêu chí là nhà ở theo quy định của pháp luật. Luật Nhà ở đưa ra khái niệm về nhà ở để phân biệt giữa nhà ở với các loại nhà khác không phải nhà ở như: nhà làm việc, nhà hàng, khách sạn và các công trình xây dựng khác.
Để phân biệt nhà ở với các công trình xây dựng khác thì pháp luật về nhà ở đã đưa ra một số đặc điểm của nhà ở: Một là, nhà ở phải do con người xây dựng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế riêng và được xây dựng bằng các loại vật liệu mà Nhà nước quy định; Hai là, nhà ở phải luôn gắn liền với đất, có đủ điều kiện để phân cấp, phân loại theo quy định và có tuổi thọ nhất định; Ba là, nhà ở phải được thiết kế có đầy đủ công năng để phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân như: có phòng ở, sinh hoạt chung, bếp, công trình phụ; trong đó các công trình phụ có thể được xây dựng khép kín trong cùng một căn hộ hoặc xây dựng tách biệt. Theo pháp luật về nhà ở thì nhà ở được phân loại thành: nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà biệt thự tại đô thị, nhà chung cư…Tuy nhiên, không phải tất cả các loại nhà ở như đề cập ở trên đều thuộc hình thức nhà ở thuộc quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam. Không giống như công dân Việt Nam ở trong nước, người nước ngoài chỉ có quyền sở hữu nhà ở là căn hộ chung cư trong dự án phát triển thương mại và không thuộc khu vực cấm hoặc hạn chế người nước ngoài cư trú đi lại. Như vậy, nhà ở thuộc sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam chỉ có thể là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân và có phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân, của chủ đầu tư và phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư.
Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm các trường hợp người nước ngoài mua nhà ở riêng lẻ hoặc nhà biệt thự gắn liền vì 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liên quan đến quy định của Luật Đất đai năm 2003 và chính sách quản lý đất đai của nhà nước ta. Trước đây, đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng bị hạn chế rất nhiều về việc sở hữu nhà ở tại Việt Nam, tuy nhiên kể từ khi Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật Nhà ở năm 2005, Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 về hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6/2009 sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai có hiệu lực thì quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với vấn đề sở hữu nhà ở được mở rộng hơn rất nhiều. Theo quy định hiện hành thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở không hạn chế về số lượng và loại nhà ở giống như công dân Việt Nam ở trong nước (trừ một số trường hợp). Điều đó có nghĩa là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu tất cả các loại nhà ở như nhà chung cư, nhà riêng lẻ, nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất… Như vậy, pháp luật về nhà ở của Việt Nam quy định rất chặt chẽ về loại nhà ở mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam được phép sở hữu.
Chính bởi chế định sở hữu đất đai, lịch sử đất đai và các chính sách, quy định đặc thù của Việt Nam liên quan đến đất đai trong việc bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước ta không mở rộng quyền sở hữu nhà ở của các đối tượng có yếu tố nước ngoài như với công dân Việt Nam ở trong nước. Khái niệm về quyền sở hữu nhà ở của ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của mỗi công dân. Người chủ sở hữu đối với tài sản sẽ có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình. Để tìm hiểu quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam cần thiết phải đi nghiên cứu về chế định sở hữu tài sản nói chung và chế định sở hữu nhà ở nói riêng.
22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đưa ra một định nghĩa về quyền sở hữu bằng cách liệt kê những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể các quyền này. Theo quy định đó thì "quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật" [28, Điều 164]. Như vậy quyền sở hữu có thể được hiểu là luật pháp về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định. Quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Có thể nói, quyền sở hữu chính là quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, được xuất hiện trên nội dung của quy phạm pháp luật về sở hữu [35, tr. Theo từ điển Luật học thì: Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định, là tổng hợp các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu tồn tại trong xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định (theo nghĩa khách quan). Các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu bao gồm những nhóm quy phạm về: các hình thức sở hữu; căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền sở hữu; cách thức, biện pháp dịch chuyển quyền sở hữu ở các hình thức sở hữu khác nhau; bảo vệ quyền sở hữu.
Quyền sở hữu là quyền của chủ thể đối với tài sản thuộc sở hữu của mình (theo nghĩa chủ quan) bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Quyền sở hữu là chế định pháp luật dân sự, là quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các yếu tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, nội dung [39, tr. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật Nhà ở năm 2005 cũng quy định về quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân: Người tạo lập hợp pháp nhà ở có quyền sở hữu đối với nhà ở đó. Nhà ở thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân không bị quốc hữu hóa (trừ trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng nhà ở thì Nhà nước bồi thường cho chủ sở hữu nhà ở theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán và tạo điều kiện để họ tạo lập nhà ở khác) [29, Điều 9].
Như vậy, quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân được nhà nước bảo hộ một cách toàn vẹn, không chủ thể nào có quyền xâm phạm đến quyền sở hữu nhà ở. Điều này có nghĩa là pháp luật công khai cho người thứ hai biết rằng một tài sản nào đó đã có chủ và ai là chủ sở hữu đối với tài sản. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới đều phân loại quyền sở hữu nhà ở là loại quyền sở hữu đối với bất động sản. Xét về mặt bản chất quyền sở hữu nhà ở (quyền sở hữu bất động sản) hầu như không có điểm gì khác với quyền sở hữu các loại tài sản khác.