CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm kỹ năng sống Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng sống. Theo tổ chức Y tế thế giới WHO (1993) “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khoẻ mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khoẻ theo nghĩa rộng nhất về mặt thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này”. Theo UNICEF, giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi.
Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào). Như vậy, kỹ năng sống chính là năng lực của mỗi người giúp giải quyết những nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả.2 Khái niệm bạo lực học đường và tình huống học đường Hiện nay trong nhiều tài liệu tâm lý học và giáo dục học có nhiều định nghĩa khác nhau về tình huống có vấn đề.M Machiuskin: “ Tình huống có vấn đề được tạo nên đặc thù tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể. Nó biểu hiện trước tiên đặc tính trạng thái tâm lí nhất định của chủ thể trong quá trình thực hiện bài tập nào đó, đòi hỏi khám phá lĩnh vực tri thức mới về đối tượng, về những phương tiện hoặc các điều kiện thực hiện hành động”.V Petrovski định nghĩa: “ Tình huống có vấn đề là tình huống đặc trưng bởi trạng thái tâm lí xác định của con người, nó kích thích tư duy trước khi con người nảy sinh những mục đích và những điều kiện hoạt động mới, trong đó những phương tiện và phương thức hoạt động trước đây mặc dù là cần nhưng chưa đủ để đạt mục đích mới”. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cùng một số tác giả khác trong Tâm lí học đại cương đã cho rằng: “ tình huống có vấn đề ( tức hoàn cảnh có vấn đề) có chứa đựng một mục đích mới, vấn đề mới, cách thức giải quyết mới mà những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ mặc dù vẫn còn cần thiết nhưng không còn đủ sức để giải quyết vấn đề mới đó, để đạt mục đích mới đó” Như vậy, theo các tác giả trên tình huống có vấn đề là tình huống chứa đựng mâu thuẫn và nảy sinh từ thế giới khách quan trong hoạt động của chủ thể, do đó cần phải xem xét tình huống có vấn đề trong mối quan hệ của thể với hiện thực khách Trang 7 quan.
Khi nảy sinh mâu thuẫn, chủ thể ý thức được mâu thuẫn đó và có nhu cầu cần giải quyết mâu thuẫn ấy nhưng lúng túng hoặc đưa ra cách giải quyết chưa tốt do thiếu kinh nghiệm, dẫn đến kết quả giải quyết mâu thuẫn không triệt để. Theo chúng tôi, tình huống học đường là những tình huống có vấn đề nảy sinh trong môi trường học tập, trong các mối quan hệ với thầy cô, bạn bè. Những tình huống ấy nảy sinh từ hiện thực khách quan, có chứa đựng mâu thuẫn trong các mối quan hệ của các em học sinh trong trường học. Những tình huống ấy thường chứa đựng yếu tố bất ngờ tác động đến chủ thể.
Các em học sinh khi rơi vào những tình huống ấy đều có nhu cầu muốn giải quyết mâu thuẫn nhưng bị động nên khó xác định phương hướng, cách thức giải quyết vấn đề. Các tác giả Smith, Morita, Junger-Tas, Catalano cho rằng: “Bạo lực học đường là những hành động xảy ra trong trường học bao gồm: lời nói, thể chất, tình dục, bạo lực tâm lý, bạo lực liên quan tới tài sản,. Trong quan niệm này chưa nói rõ bạo lực học đường gây tổn thương từ phía người này đến người khác và diễn ra trong các mối quan hệ học đường. Bắt nạt học đường cũng là một phần của bạo lực học đường, thậm chí đôi lúc còn đồng nhất hai khái niệm này với nhau.
Tuy nhiên, về bản chất bạo lực học đường và bắt nạt học đường có sự khác biệt nhất định: Bắt nạt học đường Bạo lực học đường - Đề cập đến quan hệ cá nhân hay - Đề cập đến quan hệ giữa cá nhân với cá nhóm với cá nhân là chủ yếu nhân, nhóm với cá nhân hay giữa nhóm với nhóm - Đề cập đến hành vi từ học sinh đến - Đề cập đến hành vi từ giáo viên – công học sinh là phổ biến hơn cả. nhân viên đến học sinh, từ học sinh tới giáo viên, học sinh với HS ở học đường - Đề cập đến quyền lực sức mạnh từ - Đề cập đến quyền lực sức mạnh từ phía phía này đến phía khác này tới phía khác và sự chống đối hay sự tạo dựng quyền lực từ nhóm yếu thế - Đề cập đến sự trấn áp mang tính trực - Đề cập đến sự trấn áp mang tính tiếp và cả gián tiếp với nhiều hình thức trực tiếp, cụ thể nhiều hơn lâu dài, phong phú, phức tạp. - Đề cập đến sự tự vệ mang tính yếu ớt - Đề cập đến sự tự vệ mang tính yếu hay mạnh mẽ, phản kháng thiếu sức ớt, phản kháng thiếu sức mạnh, chống mạnh hay có sức mạnh, chống đối không đối không tự tin tự tin hoặc rất quyết liệt dẫn đến mâu thuẫn và xung đột bạo lực - Tính chất của hành vi đa dạng nhưng - Tính chất của hành vi thường không màu sắc bạo lực có nguy cơ diễn ra xét quá mạnh mẽ hay không quá gây trên chuẩn hành vi xã hội, thương tổn thương tổn nặng nề mang tính trực tiếp hay gián tiếp, lâu dài Trang 8 Hành vi bắt nạt ở trẻ em là hành vi tiêu cực được lặp đi, lặp lại nhiều lần (từ 2 lần trở lên) với một trẻ khác yếu thế hơn về thể chất hoặc tinh thần, xảy ra bất kể lúc nào do một hoặc nhiều khác thực hiện, gây nên tổn thương nhất định về thể chất , tâm lý, tinh thần đối với trẻ bị bắt nạt. Hành vi bắt nạt ở trẻ em với những mức độ khác nhau có thể coi là mầm mống xuât hiện hành vi đánh nhau.
Hành vi bạo lực có thể thể hiện dưới các hình thức: bạo lực thân thể (đánh , đấm nhau,.), bạo lực tinh thần ( nói xấu nhau, chửi nhau, đe dọa, lôi kéo bạn bè tẩy chay,. Những hành vi bạo lực bằng vũ lực có thể để lại những vết thương thể xác, song những hành vi bạo lực khác như bạo lực tình dục, miệt thị, bạo hành tinh thần,. để lại những hậu quả nghiêm trọng về tâm lí, tinh thần mà không dễ thấy như những tổn thương về thể xác. Các hiện tượng bạo lực thường xảy ra trong quan hệ giữa HS với nhau là: - Gây chuyện cãi lộn, chế nhạo hoặc chỉ trích, làm mất thể diện của bạn.
- Nói đùa theo kiểu ác ý nhằm mục đích bới móc những khiếm khuyết của bạn. Cao giọng, hét to, lớn tiếng quát tháo bạn. - Mắng chửi, lăng mạ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn. - Mua chuộc, dụ dỗ kép bè phái để cô lập hoặc gây áp lực thường xuyên làm bạn hoảng sợ hoặc đau khổ.
Buộc tội sai, đổ oan, vu cáo và nói ra những lỗi lầm trước mọi người. - Đe dọa, ngăn cấm bạn tham gia các hoạt động tập thể. - Ném hoặc đập phá đồ đạc của bạn. - Trấn lột tài sản của bạn - Đánh nhau (cá nhân hoặc theo nhóm) xâm hại sức khỏe, tính mạng của bạn.
- Nhờ ( thuê) người khác dằn mặt, đánh bạn.Khái niệm về kỹ năng giải quyết tình huống học đường của học sinh Theo chúng tôi, kỹ năng giải quyết tình huống học đường là việc vận dụng một cách khéo léo những kiến thức đã học và kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử hàng ngày để giải quyết một cách hợp lí tình huống có mâu thuẫn nảy sinh trong các mối quan hệ của học sinh với thầy cô và bạn bè trong trường học. Có hai mức độ của kỹ năng giải quyết tình huống học đường của học sinh là mức độ thấp và mức độ cao. Ở mức độ kỹ năng thấp, học sinh mới ở bước đầu có kỹ năng có giải quyết mâu thuẫn nhưng kết quả chưa cao vì chưa biết lưa chọn cách xử lí tình huống nào là phù hợp nhất. Cho nên kết quả giải quyết tình huống không triệt để hoặc kết quả không như mong muốn thậm chí các mối quan hệ có chiều hướng xấu đi.
Ở mức độ kỹ năng cao, học sinh biết cách vận dụng khéo léo và nhuần nhuyễn kiến thức và kinh nghiệm sống để lựa chọn cách giải quyết tình huống tích cực nhất và kết quả thu được cũng theo chiều hướng tốt nhất. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu với mong muốn sẽ nâng cao được kỹ năng giải quyết tình huống Trang 9 học đường, từ đó nâng cao kỹ năng phòng tránh bạo lực học đường cho học sinh. Quá trình hình thành kỹ năng giải quyết tình huống học đường của học sinh Để hình thành kỹ năng giải quyết tình huống học đường của học sinh thì cần có tri thức và sự rèn luyện tích cực của chủ thể hoạt động. Quá trình hình thành kỹ năng ấy không phải tự nhiên mà có hay không phải ngày một ngày hai là có được, mà nó đòi hỏi học sinh phải tự học, tự rèn luyện và tự trải nghiệm thực tế.
Quy trình rèn kỹ năng là một quá trình rèn luyện, là tập hợp các giai đoạn, các bước, các thao tác và hành vi được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ nhằm hình thành một kĩ năng nhất định. Phạm Tất Dong, có bốn giai đoạn hình thành kỹ năng, mỗi giai đoạn có những đặc điểm đặc trưng và những yêu cầu nhất định. Đó là: Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn này được gọi là giai đoạn hình thành kỹ năng sơ bộ. Con người trước khi hành động phải nhận thức được hành động.
Dựa vào kỹ năng, kỹ xảo đã nắm được để tìm kiếm phương thức hoạt động.