Chương 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, bảo tồn, phát huy - Khái niệm Nghệ Tĩnh: Nghệ Tĩnh là tên gọi chung của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, là mảnh đất địa linh nhân kiệt với một nền văn hóa Lam Hồng gắn liền với hồn thiêng núi Hồng Lĩnh, dòng sông Lam và con người xứ Nghệ hai miền Nam (Hà Tĩnh), Bắc (Nghệ An). Một trong những đặc trưng của dải đất dọc hai bên bờ sông Lam đó là những câu hò, điệu ví ngọt ngào thắm đượm nghĩa tình.
Với con người nơi đây, làn điệu quê hương đã ăn sâu vào máu thịt, trở thành giá trị thiêng liêng, gửi gắm niềm thương nỗi nhớ. - Khái niệm dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh: Đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Có thể hiểu khái niệm về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh như sau: Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là những bài hát cổ truyền gắn với bối cảnh cuộc sống, với phường nghề và với địa danh do nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sáng tác được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. - Khái niệm bảo tồn: Bảo tồn: (heritage preservation) được hiểu là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi”. Bảo tồn văn hóa có hai đối tượng để bảo tồn: giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Bảo tồn tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lưu lại sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian. Bảo tồn các sự vật, hiện tượng là lưu giữ, không làm cho chúng bị mai một, bị thay đổi và biến dạng.
- Khái niệm phát huy: Phát huy: (heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”. Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã 5 hội. Phát huy văn hóa là làm cho những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống lan tỏa trong cộng đồng xã hội, có ý nghĩa xã hội tích cực.
Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của thế hệ trước để lại, làm cho các giá trị của văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội, biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị. Như vậy, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản văn hoá theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy có nghĩa là những hành động nhằm đưa các giá trị văn hóa vào trong thực tiễn, tạo sức lan tỏa tích cực trong xã hội, coi đó là nguồn nội lực tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là các biện pháp để gìn giữ, tôn tạo các giá trị văn hóa để chúng không bị mai một, mờ nhạt.
Và các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đó được lan tỏa, tỏa sáng và có ý nghĩa tích cực trong đời sống xã hội của nhân dân, góp phần vào mục tiêu văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu về dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh và công tác bảo tồn, phát huy giá trị của nó đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu như: Nguyễn Chí Bền, Bùi Quang Thanh, Dân ca ví, giặm Nghệ - Tĩnh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2013. Hoàng Trọng Canh, Từ địa phương với cấu trúc sóng đôi trong thơ dân gian Nghệ Tĩnh - Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví, giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 2012. Ninh Viết Giao, Tính bác học trong ca từ của dân ca ví, giặm xứ Nghệ - Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca ví, giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 2012.
Bàn về nghiên cứu các vấn đề văn hoá- di sản văn hoá- bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, ở Việt Nam có nhiều chuyên gia, nhiều tác phẩm. Như trong cuốn Di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam - Những hiện vật truyền thống và đương đại của Cục Di sản văn hóa. Cuốn sách giới thiệu tập sách ảnh về DSVH các dân tộc Việt Nam, những hiện vật truyền thống và đương đại. Năm 2007, với tư cách một nhà nghiên cứu lâu năm về DSVH, Nguyễn Chí Bền viết bài nghiên cứu Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay.
Bài báo đi sâu về nghiên cứu, phân tích cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể giai đoạn hiện nay. Công trình khoa học: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập do Ngô Đức Thịnh. Cuốn sách đã phân tích những giá trị tiêu biểu mang đặc sắc riêng có của văn hóa truyền thống Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tiêu biểu của văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đổi mới và hội nhập quốc tế. 6 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam của Nguyễn Kim Loan.
Cuốn sách đã làm rõ những nội dung: (1) Khái quát những vấn đề lý luận về DSVH, như khái niệm, đặc trưng, tiêu chí phân loại DSVH; phân tích, đánh giá vai trò của DSVH trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay; (2) Khảo sát và mô tả khái quát, đánh giá hệ thống DSVH dân tộc Việt Nam để thấy rõ những giá trị nổi bật của nó; (3) Phân tích những quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về DSVH; (4) Mô tả những kỹ năng nghiệp vụ cụ thể trong quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị của DSVH. 35 năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam của Nông Quốc Chấn, Tô Văn Đeng và Nông Viết Toại. Cuốn sách khái quát những nét cơ bản về lịch sử ngành bảo tàng văn hóa dân tộc Việt Nam, đúc rút một vài kinh nghiệm về công tác bảo tàng (sưu tầm, triển lãm, trưng bày, tuyên truyền, giáo dục khoa học. Vũ Ngọc Khánh với tác phẩm Văn hóa lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam.
Cuốn sách giúp người đọc nắm bắt một cách hệ thống, toàn diện những nghi thức, nghi lễ và nội dung của các lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, làm rõ vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng, từ đó biết trân trọng, kế thừa phát huy những cái hay, nét đẹp của chúng, góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Những công trình nghiên cứu chung về văn hóa, DSVH đã đi sâu nghiên cứu về lý luận văn hóa, DSVH, những đặc điểm của các loại hình di sản và vấn đề quản lý di sản trong xu thế mới; nhấn mạnh đến tính thời đại và nhu cầu của con người trong việc khai thác, bảo tồn và phát triển bền vững các DSVH. Mặt khác, các công trình này cũng kết hợp việc nghiên cứu di sản cùng với các môn khoa học khác, như: Lịch sử, Nghiên cứu văn hóa, Giải trí và Du lịch, Nghệ thuật và Địa lý.
Những công trình khoa học trên đã khảo cứu dưới các góc độ khác nhau những DSVH vật thể và phi vật thể của các vùng miền và ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Qua đó, giúp người đọc nhận diện và đánh giá toàn diện về bề dày và vốn quý của DSVH của dân tộc; đồng thời, đề xuất phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của DSVH trong tình hình mới. Những đề tài, tài liệu có tính chất lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc ở trên đã được tôi lấy làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu đề tài. Trên cơ sở đó, trong đề tài của tôi đã: - Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của học sinh tại trường THPT Nguyễn Sỹ Sách, huyện Thanh Chương.
- Đề xuất và thực nghiệm một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của học sinh tại trường THPT Nguyễn Sỹ Sách, huyện Thanh Chương. Ý nghĩa, vai trò của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh - Giá trị nhân văn truyền thống: Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, dân ca Ví, Giặm được cải biên thành những bài vè, đối ca, hoạt ca, trở thành công cụ hữu hiệu để cổ vũ, động viên tinh thần của bộ đội, dân quân và nhân dân chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Đây là loại hình sinh hoạt văn nghệ không đòi hỏi cầu kỳ về không gian, thời gian, hoàn cảnh diễn xướng, không cần đến nhạc cụ, đạo cụ, trang phục phức tạp, có thể được thực hành bởi cá nhân hoặc tập thể, từ các nhóm nhỏ đến trình diễn trước đông đảo công chúng…Do vậy, nó dễ được tiếp nhận và phổ biến, có sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh trong cộng đồng. Dân ca Ví, Giặm là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống người dân, là bộ phận chủ đạo trong kho tàng thơ ca trữ tình dân gian của vùng văn hóa xứ Nghệ.
Người dân xứ Nghệ hát ví, hát giặm ở mọi lúc, mọi nơi, khi ru con, đan lát, dệt vải, lúc làm ruộng, chèo thuyền, xay lúa.