MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, Điều 89, 90, 91 của Luật Giáo dục năm 2019 (có hiệu lực từ 1/7/2020) chỉ rõ trách nhiệm nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục học sinh. Gia đình được xem là trường học đầu tiên hình thành và phát triển nhân cách của con người. Gia đình cũng là nơi ươm mầm trí tuệ và cảm xúc cho mỗi cá nhân.
Đây là một trong những nhân tố chủ chốt để con người thành công trong sự nghiệp và cuộc sống. Chính vì vậy, việc gắn kết giữa học sinh với phụ huynh, gia đình là vô cùng quan trọng, giúp học sinh tìm thấy một điểm tựa tâm hồn vững chắc, phát huy hết khả năng tiềm ẩn của bản thân, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Những năm gần đây nhiều vấn đề nổi cộm trong học đường được cả xã hội quan tâm, đặc biệt là các vấn đề bạo lực học đường xảy ra với mức độ ngày càng tăng dần. Một trong những nguyên nhân để xảy ra các vấn đề tiêu cực chính là sự thiếu quan tâm học sinh từ phía gia đình, cùng với đó là sự thiếu gắn kết giữa phụ huynh - học sinh; điều đó đã gây nên không ít sự việc đau lòng và đã được báo chí, dư luận xã hội phản ánh trong thời gian qua.
Trong suốt nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Quỳnh Lưu 3, chúng tôi nhận thấy nạn bạo lực học đường thường xảy ra trong lớp học, trong trường học cũng như ngoài nhà trường. Nguyên nhân xuất phát phần lớn là từ những xích mích nhỏ, những va chạm nhỏ nhưng các em không biết cách giải quyết chúng nên dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn nghiêm trọng và để giải quyết mâu thuẫn các em dùng đến bạo lực khiến hậu quả càng nghiêm trọng hơn. Đặc biệt hiện nay, nạn bạo lực học đường càng biến đổi tinh vi và phức tạp hơn, nhưng HS lại chưa có những kĩ năng cần thiết để giải quyết vấn đề hợp lí và đạt hiệu quả. Là những giáo viên chủ nhiệm tâm huyết, chúng tôi luôn trăn trở và tìm cách gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh kĩ năng phòng chống bạo lực học đường.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn trình bày giải pháp: “Một số biện pháp phối hợp giữa Gia đình – Nhà Trường – Xã Hội trong vịêc giáo dục học sinh kĩ năng phòng chống bạo lực học đường ở trường THPT”. Mục đích n hiên cứu - Trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về kĩ năng phòng chống bạo lực học đường. - Nhằm đúc rút kinh nghiệm của một số giải pháp mà bản thân chúng tôi qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm để kết nối phụ huynh – học sinh- nhà trường- xã hội. - Góp phần bồi dưỡng lối sống lành mạnh cho học sinh.
Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu 1 31 t n n nc u Biện pháp phối hợp giữa Gia đình – Nhà Trường – Xã Hội trong vịêc giáo dục học sinh kĩ năng phòng chống bạo lực học đường ở trường THPT. 32 mv n nc u Trường THPT Quỳnh Lưu 3, lớp chủ nhiệm 11D6, lớp chủ nhiệm 12D4 và lớp 10A11 năm học 2023 – 2024. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu rõ cơ sơ pháp lý qui định về công tác phối hợp giữa gia đình nhà trường và xã hội. - Khảo sát, đánh giá thực trạng nạn bạo lực học đường trong các trường học trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu.
- Đề xuất các giải pháp giúp các em học sinh có kĩ năng phòng chống bạo lực học đường. - Khảo nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất trong đề tài. Ph n pháp n hiên cứu 51 ơn p áp n n c u lý luận 5. Nghiên c u thực nghiệm, p ân tíc , đ ều tra 53 ơn p áp tổng h p 6.
Đón óp của đề tài Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh THPT góp phần giảm thiểu nạn bạo lực học đường hiện nay. Qua đó làm phong phú thêm lí luận và thực tiễn công tác giáo dục đối với GVCN nói riêng và nhà trường nói chung, đặc biệt đưa ra các giải pháp thiết thực và hiệu quả để thiết kế và tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh THPT góp phần giảm thiểu nạn bạo lực học đường hiện nay, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục hiện hành 2018. 2 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Ch n :C SỞ L LU N VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở pháp lý qui định về công tác phối hợp giữa gia đình nhà trường và xã hội trong việc giáo dục học sinh Điều 89, 90, 91 của Luật Giáo dục năm 2019 (có hiệu lực từ 1/7/2020) chỉ rõ trách nhiệm nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục học sinh • Trách nhiệm của nhà tr ờng - Có trách nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục, quy tắc ứng xử; - Chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường, - Bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh cho cha mẹ hoặc người giám hộ.
• Trách nhiệm của ia đình - Có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc, - Tạo điều kiện cho con hoặc người được giám hộ được học tập, hoàn thành giáo dục bắt buộc, rèn luyện, tham gia các hoạt động của nhà trường; - Tôn trọng nhà giáo, không được xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo. - Tiếp nhận thông tin về kết quả học tập, rèn luyện của con - Tham gia hoạt động theo kế hoạch của nhà trường; - Tham gia hoạt động của ban đại diện cha mẹ học sinh trong nhà trường. - Phối hợp với nhà trường, giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc giáo dục con cái 1.2 Vai trò, vị trí giáo viên chủ nhiệm lớp Giáo viên chủ nhiệm vừa đóng vai trò quản lí hành chính Nhà nước, vừa đóng vai trò là người thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người đại diện cho quyền lợi của tập thể lớp. Giáo viên chủ nhiệm vừa là giáo viên bộ môn vừa là người dìu dắt học sinh phấn đấu thành con ngoan, trò giỏi, công dân tốt, có ích cho xã hội.
Theo điều lệ trường phổ thông, giáo viên chủ nhiệm lớp có những vai trò sau đây: - Thay mặt Hiệu trưởng quản lí một lớp học: GVCN lớp do Hiệu trưởng phân công và thay mặt hiệu trưởng để quản lí và tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh ở một lớp học. 3 Vai trò quản lí của GVCN lớp thể hiện trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch giáo dục, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập và tu dưỡng của học sinh trong lớp. - Xây dựng tập thể học sinh thành một khối đoàn kết: GVCN là linh hồn của lớp học. Bằng các biện pháp tổ chức, giáo dục, bằng sự gương mẫu và quan hệ tình cảm, GVCN xây dựng khối đoàn kết trong tập thể, dìu dắt các em nhỏ như con em của mình trưởng thành theo từng năm tháng.
Học sinh kính yêu GVCN như cha mẹ mình, đoàn kết thân ái với bạn bè như anh em ruột thịt, lớp học sẽ trở thành một tập thể vững mạnh. Tình cảm của lớp càng bền chặt, tinh thần trách nhiệm và uy tín của GVCN càng cao thì chất lượng giáo dục càng tốt. Rất nhiều giáo viên cùng giảng dạy trong một lớp nhưng GVCN bao giờ cũng để lại những ấn tượng sâu sắc đối với từng học sinh trong suốt cuộc đời họ. Bởi vì GVCN không chỉ dạy kiến thức mà còn dành nhiều tình cảm, tâm huyết để giáo dục học sinh.
Ngoài ra họ còn là nhân tố gắn kết các thành viên trong lớp với nhau và gắn kết các lực lượng giáo dục trong đó có sự gắn kết giữa phụ huynh và học sinh. - Tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh trong lớp: Vai trò của GVCN thể hiện trong việc thành lập bộ máy tự quản của lớp, phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, các tổ nhóm, đồng thời tổ chức các mặt hoạt động theo kế hoạch hoạt động hàng năm. Các hoạt động của lớp được tổ chức đa dạng và toàn diện, GVCN lớp quán xuyến các hoạt động một cách cụ thể, chặt chẽ. - Cố vấn đắc lực cho các đoàn thể của học sinh trong lớp: GVCN lớp cần nắm vững điều lệ, tôn chỉ mục đích, nghi thức hoạt động của các đoàn thể.
Với tinh thần, trách nhiệm, với kinh nghiệm công tác của mình làm tham mưu cho chi Đoàn thanh niên của lớp lập kế hoạch công tác, bầu ra Ban chấp hành chi đoàn, tổ chức các nội dung hoạt động và phối hợp với Ban cán sự lớp để xây dựng tập thể, đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất. - Giữ vai trò chủ đạo trong việc phối kết hợp với các lực lượng giáo dục: Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, hoạt động có mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở khoa học, do vậy GVCN phải là người chủ đạo trong điều phối các hoạt động giáo dục và cùng với các lực lượng giáo dục đó hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Năng lực, uy tín chuyên môn, kinh nghiệm công tác của GVCN lớp là điều kiện quan trọng để tập hợp lực lượng, phối hợp thành công các hoạt động giáo dục đối với học sinh trong lớp. Đặc biệt là trong phối hợp với gia đình, nhà trường để giúp đỡ, cảm hoá học sinh trong rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT Đối với học sinh phổ thông, độ tuổi mà trình độ, kiến thức cuộc sống còn nhiều hạn chế, GVCN trở thành chỗ dựa tinh thần cho các em; là nhà tư vấn, hỗ trợ, định hướng, dẫn dắt cho các em về suy nghĩ, hành động, nuôi dưỡng mơ ước cho cho các em về tương lai để sau này các em trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, các em có thể có những cảm xúc và hành vi rất khác nhau trước một vấn đề xảy ra trong cuộc sống của các em.