CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cảm xúc là thuộc tính “nguyên thủy” của con người và kéo dài trong suốt cuộc đời của từng cá nhân. Nghiên cứu về cảm xúc được chú trọng nhiều trong đời sống hiện đại. Các công trình khoa học, những chuyên đề nghiên cứu đã ra đời để phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của cảm xúc.
Những nhà hoạt động xã hội, nghiên cứu tâm lí, các chuyên gia cũng đã có nhiều tác phẩm, bài viết, góp phần nâng cao trí tuệ cảm xúc của con người như Trí tuệ xúc cảm – Tác giả Daniel Goleman; Quản Lý Cảm Xúc Làm Chủ Lý Trí – Steven Sloman, Philip Fernbach; Tổng quan nghiên cứu về cảm xúc tiêu cực trong học tập - Bùi Hoàng Ngọc , Nguyễn Thị Thanh Vân (Tập 19, Số 01, Năm 2023, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam)… Ngay cả trong các trường học cũng đã xây dựng và thực hiện các chuyên đề, chủ đề về quản lí cảm xúc. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn mang tính đại thể, đối tượng con người nói chung. Đồng thời các bài viết, tác phẩm đòi hỏi bản thân người đọc phải tự chủ, tích cực trên con đường tiếp nhận. Học sinh THPT tính tự giác tích cực chưa cao, khả năng nhận thức và lựa chọn vấn đề nghiên cứu học tập chưa có tính độc lập.
Vì vậy theo nguyên tắc “mưa dầm thấm lâu”, “dội đi dội lại”, nhắc nhở, nhìn thấy, nghe thấy mỗi ngày, kết hợp các hoạt động sư phạm mới có thể hình thành những kĩ năng cơ bản giúp học sinh ứng phó được với những cảm xúc tiêu cực trong môi trường học đường. Như vậy không chỉ kiến thức, sự hiểu biết về cảm xúc, mà phương pháp, cách thức tổ chức các hoạt động chiếm lĩnh cũng cần các nhà giáo dục – các giáo viên chủ nhiệm có tầm hiểu biết về phương pháp, cách thức và tâm huyết mới có thể biến những giải pháp có tính lí thuyết tạo ra được thành quả thật sự trong việc nâng cao năng lực của học sinh. Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, với những hoạt động giáo dục cụ thể, thường xuyên và năng lực sư phạm, những giải pháp chúng tôi đưa ra hướng đến các mục tiêu đảm bảo tính khả thi, phù hợp và hiệu quả. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT Theo Tổ chức Y tế thế giới, vị thành niên nằm trong độ tuổi từ 10 – 19 tuổi và nằm trong khoảng thời gian từ lúc dậy thì đến tuổi trưởng thành.
Các nhà nghiên cứu sinh lí, tâm lí chia lứa tuổi vị thành niên thành 3 nhóm: Giai đoạn đầu vị thành niên: 10 -13 tuổi; Giai đoạn giữa vị thành niên: 14-16 tuổi; Giai đoạn cuối vị thành niên: 17-19 tuổi. Theo cách phân chia này, HS THPT thuộc giai đoạn giữa đến cuối lứa tuổi vị thành niên (giai đoạn trung bình, giai đoạn muộn của lứa tuổi vị thành niên). 4 Theo cách phân chia của các nhà tâm lí học, HS THPT thuộc lứa tuổi đầu thanh niên (còn gọi là thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh). HS lứa tuổi THPT là thời kì đang có nhiều thay đổi về thể chất, sinh lí, tâm lí, hành vi.
Sự phát triển về thể chất, sinh lí HS THPT là những người ở độ tuổi phát triển nhanh, có những sự đột biến, không cân bằng tạm thời giữa sinh lí và tâm lí, thể chất và hệ thần kinh, thời kì phát dục, dậy thì. Đa số các em đã qua thời kì phát dục. Đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe, đẹp. Sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường, cơ thể có sự thay đổi rõ ràng.
Các nội tiết tố testosteron và estrogen đã tác động đến các đặc điểm giới tính nguyên phát. Sự phát triển tâm lí Theo các nhà tâm lí học , hoạt động của HS THPT ngày càng phong phú và phức tạp nên vai trò xã hội và hứng thú xã hội của họ không chỉ về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi về chất lượng. HS THPT có hình dáng người lớn nhưng chưa phải là người lớn. Các em còn phụ thuộc vào cha mẹ về vật chất, chịu sự lãnh đạo sư phạm của thầy cô trong nhà trường.
Vị trí của các em có tính chất không xác định (ở mặt này được coi là người lớn, mặt khác lại không), đây là tất yếu khách quan. Vì vậy trong công tác giáo dục nói chung, giáo dục kiểm soát cảm xúc tiêu cực nói riêng, các nhà giáo dục phải xây dựng một phương thức sống mới phù hợp với mức độ phát triển chung của các em bằng cách khuyến khích hành động có ý thức trách nhiệm của các em và khuyến khích sự giáo dục lẫn nhau trong tập thể. Ở HS THPT, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Khả năng tri giác có mục đích cao, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ.
Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng độc lập, sáng tạo, đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển. Ở lứa tuổi các em tình cảm, ý chí, hành vi chưa ổn định, nhưng lại thích khám phá sự mới mẻ, muốn khẳng định bản thân và cố gắng để thể hiện mình có lối sống “hiện đại”. Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS THPT, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lí của các em. Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong quá trình phát triển tâm lí của HS THPT.
Về giao tiếp và đời sống tình cảm: Tuổi THPT là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Ở lứa tuổi này được sinh hoạt, quan hệ với bạn bè cùng lứa tuổi chiếm vị trí quan trọng. Ở các em nhu cầu được khẳng định bản thân, có vị trí bình đẳng trong nhóm lớp, được tự lập rất cao. Phạm vi giao tiếp của các em được mở rộng, hoạt động riêng của các em cũng phức tạp hơn.
Vì vậy việc hình thành cảm xúc và đời sống tình cảm có sự tác động không nhỏ của các mối quan hệ. Trong công tác giáo dục kiểm soát cảm xúc cũng cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát ngoài trường. 5 Độ tuổi này cũng xuất hiện một loại tình cảm đặc biệt, đó là tình yêu nam nữ. Đây là thứ tình cảm có sức ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cảm xúc của học sinh.
Vừa có tính tích cực và hạn chế. Các em dễ bị mất kiểm soát khi bị từ chối tình yêu, bị bỏ rơi, v,v… Trong quan hệ với bạn bè khác giới, các em cảm nhận được sự xao xuyến, bối rối, ngượng ngùng. Các biểu hiện tâm lí thường thấy ở lứa tuổi này như: Muốn che giấu những rung cảm mới lạ này bằng những cử chỉ, hành vi, thái độ như tỏ ra bông đùa, suồng sã, nói lảng sang chuyện khác.; Vì muốn thu hút sự chú ý của người khác giới nên các bạn cũng hay chú ý đến bản thân: các bạn gái thích ngắm mình trước gương, thích đồ trang sức, mặc quần áo theo “mốt”, thích làm dáng; dễ xúc động khi đọc sách viết về những mối tình say mê, thích xem phim về tình yêu, khi đọc, khi xem thường quan tâm đến các nhân vật, xem họ làm quen như thế nào? Thể hiện tình cảm yêu đương ra sao?; Những rung cảm giới tính thường chứa đựng nhiều tâm trạng phức tạp: nhớ nhung, thẹn thùng, buồn vui, khao khát một cái nhìn trìu mến, một lời nói dịu dàng, một cử chỉ quan tâm, nhưng lại e ngại, run sợ trước lời tỏ tình của bạn khác giới, bởi chính bản thân các em, nhất là các bạn gái vẫn còn ngỡ ngàng trước những biến đổi mới lạ trong đời sống tình cảm của mình. Những tình cảm đan xen và tâm lí chưa vững vàng khiến cảm xúc của các em không ổn định.
Đôi khi các em cảm thấy thất vọng, tổn thương, nhưng cũng nhanh chóng trở nên sôi nổi, lạc quan. Từ những đặc điểm tâm sinh lí của HS THPT, có thể thấy rằng đây là lứa tuổi mà đời sống tinh thần và tình cảm phức tạp. Việc đối diện với những cảm xúc tiêu cực trong đời sống, học tập là không tránh khỏi. Vì vậy cần trang bị cho các em những kiến thức về việc kiểm soát cảm xúc cần được người lớn, bố mẹ, thầy cô quan tâm.Cảm xúc và cảm xúc tiêu cực Cảm xúc theo định nghĩa của Từ điển Oxford về cảm xúc là "Một cảm giác mạnh mẽ xuất phát từ hoàn cảnh, tâm trạng hoặc mối quan hệ với người khác".
Cảm xúc là phản ứng với các sự kiện quan trọng bên trong và bên ngoài. Cảm xúc có thể là sự xuất hiện (ví dụ: hoảng loạn) hoặc tâm thế (ví dụ: thù địch) và có thời gian tồn tại ngắn (ví dụ: tức giận) hoặc có thời gian tồn tại dài (ví dụ: đau buồn). Nhà trị liệu tâm lý Michael C. Graham mô tả tất cả các cảm xúc như tồn tại trên một cường độ liên tục.
Vì vậy, nỗi sợ hãi có thể bao gồm từ lo lắng nhẹ đến mức khủng bố hoặc xấu hổ có thể từ ngượng ngập đơn giản đến xấu hổ mang tính độc hại. Cảm xúc đã được mô tả là bao gồm một tập hợp các phản ứng phối hợp, có thể bao gồm các cơ chế thông qua lời nói, sinh lý, hành vi và thần kinh. Cảm xúc tiêu cực là bất kỳ cảm giác nào gây ra đau khổ và buồn bã. Những cảm xúc này có thể khiến bạn không thích bản thân hoặc người khác, làm giảm sự tự tin, lòng tự trọng và giảm nhiệt huyết đối với cuộc sống.
Cảm xúc tiêu cực xảy 6 đến rất đa dạng, có thể là ghét, tức giận, ghen tị và buồn bã. Trong bối cảnh phù hợp, những cảm giác này là hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống, công việc của con người.Cảm xúc tiêu cực học đường và các biểu hiện Cảm xúc tiêu cực học đường là những biểu hiện tâm lý của học sinh khi gặp phải những vấn đề trong học tập, nhà trường, quan hệ bạn bè trong lớp… tác động động làm cho cảm xúc bị biến đổi theo hướng tiêu cực. Cảm xúc này diễn ra khá tinh vi, phức tạp, khó nắm bắt nếu bản thân học sinh không biểu hiện ra nét mặt, hành động.
Những biểu hiện của cảm xúc tiêu cực: - Chán nản, bi quan và không có hứng thú trong quá trình học tập.