MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một trong số ít quốc gia được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển phong phú và đa dạng. Nằm phía tây Thái Bình Dương, bờ biển Việt Nam có chiều dài hơn 3.260km cùng hơn 1 triệu km2 vùng biển đặc quyền kinh tế. Với 28 tỉnh thành có biển là điều kiện cho phép khai thác nhiều lợi thế về kinh tế biển khác nhau. Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực.
Ngoài cá biển là nguồn lợi chính còn nhiều loại đặc sản khác có giá trị như tôm, cua, ghẹ, mực, rong bển, hải sâm. Năm 2018, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 7,74 triệu tấn, tăng 7,2% so với năm 2017, trong đó sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 3,59 triệu tấn (tăng 6,0% với năm 2017), trong đó khai thác biển đạt gần 3,4 triệu tấn, khai thác nội địa 218. Bằng nguồn hải sản cũng rất đáng kể và có trữ lượng lớn như thế đã đem lại nguồn lợi cũng như tạo việc làm cho hơn 4 triệu lao động trực tiếp đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản và hơn nửa triệu lao động liên quan kết quả đạt được khi khai thác biển. Vậy nên, đánh bắt hải sản giữ vai trò quan trọng đối với Việt Nam cả về thu nhập và tạo công ăn việc làm cho người dân.
Trong thực tế, các hoạt động sinh kế của cộng đồng ngư dân phụ thuộc gần như hoàn toàn vào việc khai thác nguồn tài nguyên biển. Đối với ngư dân, biển chính là môi trường sống, là nền kinh tế, là nguồn vốn tự nhiên mà thiên nhiên ban tặng, nhưng đó cũng là môi trường đầy khắc nghiệt, nguy hiểm và đầy rủi ro. Chính vì thế họ phải thường xuyên gồng mình và đối mặt với thiên tai như mưa bão, giông tố, cướp biển. Quỳnh Phương là một phường thuộc thị xã Hoàng Mai tỉnh Nghệ An, là phường ven biển “nơi đất chật người đông” nằm phía Đông Bắc thị xã Hoàng Mai, trên tuyến đường tỉnh lộ 537b, điểm xuất phát từ thị xã Hoàng Mai đến xã Quỳnh Nghĩa.
Với diện tích 345ha, dân số tính đến tháng 12/2019 là gần 19000 người, sinh sống ở 11 khối, trong đó có tới 80% dân số sống bằng nghề khai thác, đánh bắt hải sản. Chính vì thế, thu nhập của hộ ngư dân luôn có xu hướng biến động và không ổn định, bên cạnh đó không phải lúc nào việc khai thác cũng diễn ra thường xuyên và thuận lợi. Chính vì vậy việc phân tích làm rõ nghiên cứu sinh kế hộ ngư dân, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của họ, cũng như đưa ra các giải pháp khắc phục những biến đổi không ổn định của sinh kế hộ ngư dân. Nhằm phát triển ổn định và lâu dài trong hoạt động xã hội của địa phương đồng thời nâng cao cải thiện chất lượng cuộc sống của các hộ ngư dân.
Xuất phát từ thực tiễn cũng như hiểu được tầm quan trọng của vấn đề tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài “Sinh kế hộ ngư dân ven biển trên địa bàn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” với mong muốn tìm ra nguyên nhân và những vấn đề nổi cộm mà người dân đang mắc phải để tìm ra hướng giải quyết hiệu quả nhất nhằm đưa đời sống của người dân ngày càng đi lên cũng như đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu sinh kế của hộ ngư dân ven biển phương Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện nghiên cứu sinh kế hộ ngư dân cũng như nâng cao cải thiện sinh kế hộ ngư dân theo hướng phát triển bền vững.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế hộ ngư dân - Đánh giá thực trạng sinh kế hộ ngư dân ven biển phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ ngư dân ven biển của phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An - Đề xuất một số giải pháp cải thiện nghiên cứu sinh kế hộ ngư dân nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ ngư dân theo hướng phát triển bền vững cho hộ ngư dân ven biển phường Quỳnh Phương.3 Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện được các mục tiêu trên đề tài tập trung trả lời các câu hỏi sau: (1) Cơ sở lý luận về sinh kế và sinh kế bền vững của hộ ngư dân là gì? (2) Thực trạng sinh kế của hộ ngư dân trên địa bàn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An như thế nào? (3) Yếu tố nào ảnh hưởng đến sinh kế của hộ ngư dân trên địa bàn phường? (4) Có những định hướng và giải pháp nào để cải thiện sinh kế cho các hộ ngư dân? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế của các hộ ngư dân tại một số khối của phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Chủ thể nghiên cứu: - Chủ thể chính: các hộ ngư dân - Chủ thể liên quan: chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng 1.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung phân tích simh kế hiện tại của hộ ngư dân. Các yếu tố ảnh hưởng và giáp pháp cải thiện sinh kế hộ ngư dân. Phạm vi về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu tại địa bàn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
Phạm vi về thời gian: - Số liệu thứ cấp: Phục vụ nghiên cứu của đề tài được thu thập trong giai đoạn 2018-2020. - Số liệu sơ cấp: Các thông tin sơ cấp điều tra thu thập năm 2020 để phục vụ nghiên cứu. - Đề tài được thực hiện và tìm hiểu trên địa bàn từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận về sinh kế hộ ngư dân 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về sinh kế Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế.
Tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Về căn bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng. Đã có nhiều tác giả, tổ chức nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về sinh kế. Sau đây là một số khái niệm đã được chấp nhận rộng rãi.
- Theo Ủy ban phát triển Quốc tế vương quốc Anh (DFID - 1998) một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. - Theo Chamber end Conway (1992): “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống, sinh kế chỉ bền vững khi có thể đương đầu và phục hồi sau cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp, và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn”. - Theo Bùi Đình Toái (2004): Khái niệm sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương tiện kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Tóm lại, ta có thể hiểu theo cách đơn giản sinh kế của hộ gia đình hay của cộng đồng là kế sinh nhai hay phương tiện kiếm sống của hộ hộ gia đình hay cộng đồng đó. Sinh kế được tạo nên bởi sự tương tác giữa những hoạt động của cộng đồng, các quyền lợi, những công cụ đương đầu với tính dễ bị tổn thương và những biện pháp thích hợp chống lại khủng hoảng dựa trên nguồn lực của cộng đồng.2 Khái niệm về sinh kế bền vững Định nghĩa sinh kế bền vững được Hanstad diễn giải rằng “Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng ứng phó và hồi phục khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên”. Theo chambers and Conway (1992), sinh kế được coi là bền vững khi có thể đương đầu vượt qua những áp lực sống và duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai, nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh kế bễn vững và được tiến hành ở nhiều tổ chức khác nhau, mỗi tổ chức đều đưa ra quan điểm riêng về sinh kế bền vững theo từng cách nhìn nhận.
Tuy nhiên, họ đều dựa trên việc xây dựng khung sinh kế bền vững để làm rõ quan điểm của mình.3 Sinh kế của hộ ngư dân Ngư dân hay dân chài hay dân đánh cá là người dùng lưới, cần câu cá, bẫy hoặc các dụng cụ khác để bắt và thu gom cá hoặc các loại sinh vật thuỷ sinh từ sông, hồ hoặc đại dương để làm thức ăn cho con người hoặc cho những mục đích khác. Khái niệm này bao gồm cả những người làm việc tại các trại nuôi cá. Đặc thù của ngư dân là họ phải sống và làm việc trong một 8 môi trường khắc nghiệt và tiềm ẩn nhiều rủi ro, cuộc sống của họ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tự nhiên mà cụ thể là các nguồn lợi từ biển. Hộ ngư dân: là hộ nông dân nhưng thường sống tập trung thành từng thôn, làng trài dài ở ven sông và ven bờ biển.