Chương 1: Cơ cở lý luận về sinh kế của các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án thủy lợi Phước Hòa. Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng các tác động của dự án đến hoạt động sinh kế của các hộ bị ảnh hưởng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm xây dựng sinh kế bền vững cho các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ CỦA NGƢỜI DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Khi nghiên cứu về sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất để thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội, cần nghiên cứu những vấn đề về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để có cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn về công tác giải phóng mặt bằng, vừa là tiền đề trực tiếp vừa là nguyên nhân của phát triển sinh kế bền vững của người dân. - Thu hồi đất: Theo khoản 5 Điều 4 Luật Đất đai: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai. - Giải phóng mặt bằng: Có thể nói giải phóng mặt bằng hay giải tỏa mặt bằng là một quá trình “làm sạch” mặt bằng thông qua việc thực hiện di dời các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu và một bộ phận dân cư trên một diện tích nhất định nhằm thực hiện quy hoạch, cải tạo hoặc xây dựng công trình mới. Phan Trung Hiền – khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, Về nội hàm của một số khái niệm trong Pháp luật đất đai, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử, ngày 11/04/2017.[13] - Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Theo khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đấtlà việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:Theo khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai: Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. - Tái định cư: Tái định cư là bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất và tái định cư theo nghĩa hẹp đó chính là quá trình di dời người dân đến một nơi ở mới. Khái niệm: Người đầu tiên sử dụng khái niệm này là Robert Champers với nghĩa như sau “Sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống”. 10 Theo Tổ chức CRD (Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam) khi triển khai hoạt động phát triển cộng đồng giải thích rằng sinh kế là “Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”1.
Trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (Bộ phát triển Quốc tế Anh) thì “ Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”. [5] Nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm sinh kế của DFID để triển khai phân tích các vấn đề sinh kế của hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án Thủy lợi Phước Hòa. Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế: Theo Lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID[15], Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau. Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) sau: Nguồn lực con người: Gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻcon người.
Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn. Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà conngười đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.
Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộngđồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, địa hình, khí hậu, vật nuôi, cây trồng. Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình giải tỏa mặt bằng, di dân TĐC, việc mất đất hay di chuyển dân đến nơi ở mới đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên ở một nơi cụ thể (nơi đến) của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ. Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin.
Nguồn lực tài chính: Là những liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, bổng, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng. Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng.org/vi/quy-trinh-xay-dung-mo-hinh-sinh-ke-ben-vung, 11 Khác với chiến lược sinh kế hộ, chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là: (i) Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; (ii) Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; (iii) Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; (iv) Cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin. và nguồn tài chính của cộng đồng đó có được từ công tác thu ngân sách, các dự án tài trợ, hoặc thu nhập từ nguồn thu của cộng đồng đó. Trong nghiên cứu này, “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” của con người, cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất để xây dựng Dự án Thủy lợi Phước Hòa, sinh sống trên địa bàn 5 xã: Minh Thành, Minh Thắng, Nha Bích, Minh Lập và Tân Thành.
Sinh kế bền vững 1.1 Khái niệm Định nghĩa sinh kế bền vững được Hanstad và cộng sự (2004) diễn giải rằng “Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị các tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên”[15]. Tác giả Koos Neefjes (2000) giải thích sinh kế bền vững là “Một sinh kế phải phụ thuộc vào các khả năng và của cải (cả nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động mà tất cả là cần thiết để mưu sinh. Sinh kế của một người hay một gia đình là bền vững khi họ có thể đương đầu và phục hồi trước các căng thẳng và chấn động, và tồn tại được hoặc nâng cao thêm các khả năng và của cải của mình và cả trong tương lai mà không làm tổn hại đến các nguồn lực môi trường”[16]. Sinh kế bền vững là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu về mưu sinh của người dân bị thu hồi đất để xây dựng Dự án, không còn tư liệu sản xuất trong khi họ cầm tiền mà nhà nước bồi thường nhưng kiến thức kinh doanh hạn chế vì trước đến nay họ chuyên canh sản xuất nông nghiệp, nhu cầu các thiết bị phục vụ gia đình rất nhiều và trong tiềm thức muốn mua dẫn đến tiền mà nhà nước bồi thường sau một khoảng thời gian ngân bị hao hụt nhiều.
Diện tích đất mua lại nơi khác không bằng diện tích bị thu hồi, sinh kế bền vững bị ảnh hưởng nghiêm trọng.2 Tính bền vững của sinh kế Chambers và Conway (1992) đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 2 phương diện: bền vững về môi trường và bền vững về xã hội. Sau này, Scoones (1998), Ashley, C. (1999), DFID (2001) và Solesbury (2003) đã phát triển tính bền vững 12 của sinh kế trên cả phương diện kinh tế và thể chế và đi đến thống nhất đánh giá tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: Kinh tế, Xã hội, Môi trường và Thể chế. Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì một mức phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác nhau giữa các khu vực.
Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội được giảm thiểu và công bằng xã hội đạt được mức tối đa, phát triển môi trường sinh sống, sản xuất. Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc qui trình hiện hành có khả năng thực hiện chức năng của chúng một cách liên tục và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh kế. Có thể nói, một sinh kế sẽ là bền vững khi: (i) Có khả năng thích ứng và phục hồi trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài; (ii) Không phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài; (iii) Duy trì được năng suất trong dài hạn của các nguồn tài nguyên thiên và (iv) Không làm phương hại đến các sinh kế khác.