Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Sinh kế Sinh kế còn có các cách gọi đồng nghĩa là “Kế mưu sinh”, “Hoạt động mưu sinh”, “Phương thức mưu sinh”, là thành tố quan trọng trong đời sống tộc người, có quan hệ mật thiết và có ảnh hưởng lớn đến các thành tố khác như chính trị, văn hóa, xã hội… Theo nghĩa Hán - Việt, “Mưu” là cách thức, phương cách, còn “Sinh” là sinh sống để tồn tại. Hiểu theo nghĩa triết tự và chung nhất, “hoạt động mưu sinh” là những cách thức, những phương cách kiếm sống nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con người, của cộng đồng và của các tộc người.
Robert Champers được coi là một trong những người đầu tiên sử dụng khái niệm “Sinh kế”. Theo ông, sinh kế gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống”. Đồng dạng quan điểm với Robert Champers, các tác giả Emily A. Lavenda, sinh kế là các của cải vật chất (lương thực, quần áo, nhà ở…) mà con người tạo ra để duy trì cuộc sống (Nguyễn Văn Sửu (2010).
Tổ chức CRD (Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam) khi triển khai các chương trình hoạt động phát triển cộng đồng đưa ra quan điểm: sinh kế là “tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu, ước nguyện của họ” Trong khi đó, Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFID) quan niệm “sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” (Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016). LUAN VAN CHAT Số hóa LUONG download bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 5 Ở Việt Nam, khái niệm “Sinh kế” không có trong Từ điển bách khoa Việt Nam. Trong Đại từ điển Tiếng Việt chỉ có một câu ngắn gọn về khái niệm này: “Sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống”. Khái niệm “Sinh kế” thường được sử dụng để nghiên cứu phương cách kiếm sống của các tộc người đang ở trình độ phát triển kinh tế - xã hội tiền công nghiệp, gồm các bộ phận: trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công, trao đổi và khai thác các nguồn lợi tự nhiên.
“Hoạt động kinh tế” gồm nhiều yếu tố hay cấp độ. Trước hết, sinh kế gồm hai yếu tố chính là hoạt động sản xuất và hoạt động chiếm đoạt. Hoạt động sản xuất gồm 4 thành tố cơ bản: trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công và trao đổi hàng hóa; hoạt động chiếm đoạt gồm săn bắn, đánh bắt và hái lượm. Trong trồng trọt lại chia thành trồng trọt ruộng nước, trồng trọt nương rẫy và làm vườn; chăn nuôi lại chia thành chăn nuôi gia súc và gia cầm.
Nghề thủ công cũng có thể chia thành các nghề như đan lát, dệt vải, gốm, rèn; trao đổi có thể gồm trao đổi nhằm mục đích tự cấp tự túc và trao đổi nhằm mục đích hàng hóa. Cách phân loại trên được trình bày “theo mẫu” khi viết về hoạt động kinh tế trong các giản chí dân tộc học hay trong các chuyên khảo. Sinh kế bền vững Sinh kế bền vững là khái niệm dùng để chỉ các hoạt động mưu sinh tương đối bền vững với thời gian, ứng phó được với những thay đổi của môi trường sống. Từ quan điểm chung này, các học giả lại phát triển thêm các ý tưởng khác nhau.
Koos Neefjes cho rằng, sinh kế phụ thuộc vào các khả năng và nguồn lực vật chất và xã hội; sinh kế của một gia đình, hay cá nhân chỉ được coi là bền vững khi có thể đương đầu và phục hồi trước những căng thẳng, biến động; các khả năng và của cải có thể tồn tại được và được nâng cao trong tương lai và không làm tổn hại đến các nguồn lực của môi trường. Hanstad cũng đưa ra quan điểm tương tự, rằng, một sinh kế được coi là bền vững khi có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, có thể nâng cao các khả năng và tài sản ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, đồng thời không làm ảnh hưởng đến nền tảng của các nguồn lực tự nhiên (Trịnh Thị Hạnh (2017). LUAN VAN CHAT Số hóa LUONG download bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 6 Lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID hay tiếp cận sinh kế theo khung sinh kế bền vững được trình bày trong các nghiên cứu của các tác giả Chambers và Conway, Scoones…, đến nay được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế với đói nghèo. Theo khung phân tích này, sinh kế bao gồm các yếu tố hợp thành là: - Các ưu tiên trong việc mưu sinh mà con người có thể nhận biết được; - Các chiến lược để mưu sinh mà mỗi người, gia đình hay cộng đồng cư dân lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên ở trên - Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của cá nhân, tập thể đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; - Các tiếp cận của cá nhân, cộng đồng cư dân đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mà họ đang có Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ.
Khung sinh kế bền vững Khung phân tích sinh kế bền vững chia vốn mà con người sử dụng để sinh kế thành năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, gồm: - Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế. Vốn tự nhiên rất đa dạng, bao gồm đất đai, nước, rừng, đa dạng sinh học, và những nguồn tài nguyên không thể tái tạo được như các loại khoáng sản (than đá, sắt, đồng…). - Vốn vật chất gồm các công trình hạ tầng như nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, dụng cụ sản xuất để hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế (còn gọi là vốn do con người làm nên), phản ánh hiện trạng kinh tế và phương thức phát triển sinh kế của hộ gia đình; đồng thời là yếu tố đầu tiên khi đánh giá tiềm năng, khả năng sinh kế của mỗi cộng đồng hay hộ gia đình. LUAN VAN CHAT Số hóa LUONG download bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 7 - Vốn tài chính là các nguồn lực tài chính (tiền và các loại tài sản có thể quy thành tiền), như thu nhập thường xuyên, tiền tiết kiệm, hay các nguồn thu khác được sử dụng cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế; - Vốn xã hội là nguồn lực xã hội được sử dụng để phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của mình, gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; - Vốn con người gồm kinh nghiệm, kỹ năng, sức khỏe, tri thức của người lao động, hay số lượng, chất lượng của nguồn lao động là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế.
Đối với hộ gia đình, vốn con người là số lượng và chất lượng lao động của hộ, tùy thuộc vào quy mô của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, các hiểu biết của các thành viên trong hộ gia đình, nhất là chủ hộ về các chính quyền, luật pháp, các chính sách, các thủ tục liên quan đến các hoạt động sinh kế mà hộ gia đình đang thực hiện hoặc dự định thực hiện. Gần đây, nhiều nhà Dân tộc học Việt Nam phân các nguồn vốn thành hai loại nguồn là nguồn vốn xã hội (nguồn lực con người tức người lao động và xã hội hay cộng đồng mà con người đang sinh sống và vốn tài chính cũng nằm trong xã hội) và nguồn lực tự nhiên (vốn tự nhiên, vốn vật chất). Đặc điểm của sinh kế bền vững cho hộ dân tộc - Sinh kế bền vững cho hộ dân tộc có những đặc điểm sau Thứ nhất, hộ dân tộc thường có vị thế yếu trong xã hội và trong kinh tế thị trường hiện nay do các yếu tố có tính đặc trưng của DTTS cũng như do mối quan hệ tương quan về kinh tế, chính trị, trình độ học vấn với dân tộc đa số. Vì thế, khi bàn tới sinh kế của gia đình DTTS người ta thường chú ý đến khía cạnh hỗ trợ để họ vươn lên bình đẳng với dân tộc đa số.
LUAN VAN CHAT Số hóa LUONG download bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ:thông add tin –luanvanchat@agmail.com ĐHTN http://lrc.vn 8 Thứ hai, hộ dân tộc thường duy trì truyền thống và kỹ thuật canh tác nông nghiệp lạc hậu, mang tính tự cung, tự cấp, khó hòa nhập vào kinh tế thị trường hiện đại, nên khi bàn về sinh kế của hộ gia đình DTTS người ta thường tiếp cận theo hướng hỗ trợ họ cải tiến phương thức tổ chức sản xuất có lợi cho họ và hòa nhập với kinh tế thị trường. Thứ ba, đa phần hộ dân tộc ở Việt Nam nói chung, ở huyện Võ Nhai nói riêng, chủ yếu sống bằng nghề nông, lĩnh vực thường có thu nhập thấp, nhiều rủi ro trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Chính vì thế, phát triển sinh kế của hộ gia đình DTTS, ngoài việc hỗ trợ họ chuyển nghề, đa phần liên quan đến phát triển nông nghiệp bền vững, một lĩnh vực rất khó khăn hiện nay ở nước ta. Ngoài ra, khi phân tích sinh kế của hộ gia đình DTTS, cần chú ý đến sự thay đổi nhu cầu của người dân do các biến động xã hội tạo ra cũng như những ảnh hưởng của môi trường vĩ mô, điều kiện tự nhiên đến hoạt động sinh kế của họ.
Để tồn tại, con người luôn phải thực hiện các hoạt động đảm bảo các nhu cầu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, các nhu cầu văn hóa tinh thần, phát triển bản thân,. xã hội ngày càng phát triển thì càng tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn, cao hơn nhu cầu của con người. Do đó, mục tiêu của sinh kế, không hiểu theo nghĩa hẹp là đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở tối thiểu để tồn tại, mà phải là đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ở mức trung bình và trên trung bình của xã hội.