CHƯƠNG 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về sinh kế bền vững trong và ngoài nước đã làm rõ thực trạng sinh kế ở nhiều bối cảnh khác nhau, có ba hướng nghiên cứu chính gồm: (1) Dựa vào tài sản sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế; (2) Dựa vào phân tích tính bền vững của sinh kế; (3) Phương pháp đo lường sinh kế bền vững. Luận án chỉ ra rằng các hướng nghiên cứu đã làm rõ được mục tiêu nghiên cứu sinh kế, nhấn mạnh đến nguồn lực sinh kế và kết quả các hoạt động sinh kế cũng như những phương pháp đánh giá tính bền vững của sinh kế, tuy nhiên còn nhiều hạn chế như chưa có hệ thống các chỉ tiêu phân tích nguồn lực sinh kế, hay đo lường mức độ bền vững, chưa có mô hình phân tích sinh kế bền vững riêng cho cư dân vùng đệm Vườn quốc gia… Từ đó, luận án đã rút ra được 3 khoản trống cơ bản cần tiếp tục nghiên cứu cho nghiên cứu luận án. 17 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ Ý U N VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA CƯ DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA 2. Quan điểm sinh kế bền vững, khung phân tích và tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế 2.
Khái niệm sinh kế bền vững Rober Champers và Godern Conway (1992) là những người đầu tiên đưa ra khái niệm khá rõ ràng, theo các tác giả “Sinh kế gồm năng lực, nguồn lực (nguồn dự trữ, nguồn tài nguyên, quyền được bảo vệ và tiếp cận) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” [37]. Tóm lại, sinh kế là những hoạt động cần thiết mà cá nhân hay hộ gia đình phải thực hiện để duy trì sự sống và đảm bảo nhu cầu sống dựa trên các khả năng và nguồn lực sinh kế của chính họ. Quan điểm về sinh kế bền vững Quan điểm về sinh kế bền vững dựa trên lý thuyết về phát triển bền vững, phát triển bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”[49]. Báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (nay là Ủy ban Brundtland), báo cáo ghi rõ “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [36].
18 Khái niệm “Phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào “Bảo vệ môi trường” từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra như: Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau. Theo Trần Ngọc Ngoạn (2008) phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [20]. Chambers và Conway (1992) nhận định “một sinh kế được cho là bền vững khi mà sinh kế đó có thể đối phó và phục hồi từ những căng thẳng và các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường khả năng các tài sản, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ tiếp theo; phân phối các phúc lợi ở cấp địa phương và cấp cộng đồng trong ngắn hạn và dài hạn” [37]. Hanstad và cộng sự (2004) diễn giải rằng “Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị các tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên” [45].
Tác giả Koos Neefjes (2000) giải thích sinh kế bền vững là “Một sinh kế phải phụ thuộc vào các khả năng và của cải (cả nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động mà tất cả là cần thiết để mưu sinh. Sinh kế của một người hay một gia đình là bền vững khi họ có thể đương đầu và phục hồi trước các căng thẳng và chấn động, tồn tại được hoặc nâng cao thêm các khả năng và của cải của mình và cả trong tương lai mà không làm tổn hại đến các nguồn lực môi trường” [61]. Như vậy, chúng ta có thể hiểu sinh kế bền vững là việc sử dụng các nguồn lực cần thiết để thực hiện các chiến lược sinh kế nhằm đạt được các kết quả mong muốn. Ở cấp hộ gia đình, sinh kế đó được coi là bền vững khi sinh kế đó có thể duy trì mức thu nhập ổn định và ít tác động đến các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội.
Các nguồn lực sinh kế 19 bao gồm: (1) Nguồn lực con người; (2) Nguồn lực vật chất; (3) Nguồn lực tự nhiên; (4) Nguồn lực tài chính; (5) Nguồn lực xã hội. Các nguồn lực sinh kế có quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động trực tiếp đến chiến lược sinh kế, kết quả sinh kế và mục tiêu sinh kế. Khung phân tích sinh kế bền vững Khung phân tích được xem là một công cụ hữu hiệu để nhận định các nhân tố cấu thành và các tiêu chí đánh giá sinh kế, những cú sốc, những căng thẳng, hoàn cảnh cần phải đối phó, những điểm mạnh và điểm yếu, từ đó lựa chọn phương pháp tác động đến sinh kế phù hợp để cải thiện, lựa chọn hoặc thay thế sinh kế. - Các yếu tố cấu thành khung phân tích Chương trình UNDP (1985), mô hình của CARE (1994) mô hình được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ bản: Bối cảnh, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế.
Sau này các nghiên cứu xây dựng khung phân tích chi tiết hơn các thành phần liên quan trong việc phân tích một sinh kế bền vững như: Scoones (1998), Frank Ellis (2000), DFID (2001) có 5 yếu tố cấu thành khung sinh kế [39]: Bối Nguồn lực Quy trình Chiến lược Kết quả cảnh sinh kế và cấu trúc sinh kế sinh kế Hình 2. Các yếu tố cấu thành khung phân tích sinh kế bền vững [45] + Thứ nhất, bối cảnh bên ngoài Bối cảnh sống là môi trường về kinh tế, xã hội, văn hóa, tự nhiên, thể chế, chính sách. Bối cảnh tác động đến các sinh kế như: các cú sốc về mùa vụ, điều kiện thời tiết, dịch bệnh; các xu hướng kinh tế, định hướng phát triển kinh tế, dân số; điều kiện về cơ hội tiếp cận việc làm, thị trường, công nghệ, thông tin [39], [41], [70]. Ngoài ra, các hủ tục, luật tục của địa phương dẫn đến những xung đột về thể chế, chính sách…[13], [62].
+ Thứ hai, nguồn lực sinh kế (tài sản sinh kế) Nguồn lực sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất hoặc phi vật chất mà con người có thể sử dụng đế duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Mục tiêu sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có để tạo thu nhập cho nông hộ (Ellis, 2000). Tài sản gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình (Scoones, 1998). Vốn nhân lực được phản ánh dưới dạng kiến thức, ý tưởng, sáng tạo, kỹ năng và năng suất lao động [80].
Nguồn nhân lực có thể được đầu tư thông qua nhiều hình thức gồm giáo dục chính thức và không chính thức, việc làm, sức khỏe, kinh nghiệm…[79]. * Nguồn lực xã hội: Là các tiềm lực xã hội mà con người dựa vào để theo đuổi các chiến lược sinh kế như: mạng lưới xã hội (tham gia các hội, nhóm, đoàn thể…); các nhóm tổ chức đoàn thể (chính thức và không chính thức); quy tắc xã hội và cơ hội tham gia; nguồn hỗ trợ thông tin, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin…[41]. Ngoài các vấn đề trên, vốn xã hội cũng phản ánh các giá trị và hành vi chung, các quy tắc và chế tài chung, đại diện tập thể, cơ chế tham gia vào việc ra quyết định [45]. Muhammad (2012) khi nghiên cứu trong bối cảnh vùng đệm đã nhận định, tài sản xã hội được đo bằng văn hóa truyền thống, duy trì các phong tục, bảo tồn giá trị dân tộc và đời sống của người dân.
Các chỉ số về vốn xã hội là các yếu tố thiết yếu hỗ trợ sinh kế bền vững của người dân vùng đệm Sebangau. Tuy nhiên chỉ khoảng 10% dân số được hưởng các lợi ích để phát triển kinh tế [80]. * Nguồn lực vật chất: Là các loại tài sản của hộ gia đình hoặc cộng đồng liên quan đến cơ sở hạ tầng cơ bản và các phương tiện để hỗ trợ cho các hoạt động sinh kế như: điện, đường, trường, trạm, loại nhà ở, phương tiện sản xuất (máy móc, thiết bị), phương tiện sinh hoạt (loại công trình đang sở hữu) [48], [80]. Cơ sở hạ tầng (giao thông, đường bộ, nơi trú ẩn và tòa nhà, công trình nước và vệ sinh, năng lượng, thông tin liên lạc), công cụ và công nghệ (công cụ và thiết bị để sản xuất, hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, công nghệ truyền tin [47].
Tài sản vật chất thể hiện quyền truy cập các cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ đời sống cộng đồng, các dịch vụ như sự sẵn có dịch vụ điện, rác, vệ sinh và nước sạch cũng như mạng lưới truyền thông…[80]. * Nguồn lực tài chính: Là các nguồn vốn khác nhau mà con người sử dụng để đạt các mục tiêu sinh kế, đó là các khoản tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Vốn tài chính bao gồm như: nguồn tiết kiệm, thu nhập, tiền gửi, vật nuôi, hàng hóa dự trữ, khoản hỗ trợ, trợ cấp, lương hưu, các khoản tiền vay, tín dụng và các khoản nợ [39]. Vốn tài chính cũng được hiểu là tiền mặt, tín dụng, các khoản nợ, tiết kiệm và các tài sản kinh tế 21 khác rất cần thiết cho việc theo đuổi bất kỳ chiến lược sinh kế nào [54]; vốn tài chính là nguồn quỹ thu được và phản ánh là tổng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu [80].