Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều - Tổng chủ biên Nguyễn Minh Thuyết

Dưới đây là kết quả tạo meta tags cho bài viết "Sgk ngu van 7 tap 1 canh dieu": { "ai_description": "Giáo trình ngữ văn 7 tập 1 cung cấp tài liệu giảng dạy

Trường đại học

Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách giáo khoa
134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

SGK Ngữ văn 7 tập 1 thuộc bộ sách giáo khoa Cánh Diều do Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam biên soạn. Tác phẩm do nhóm tác giả gồm Nguyễn Minh Thuyết (Tổng Chủ biên) và Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) cùng các cộng sự thực hiện. Sách kế thừa mô hình giáo dục từ lớp 6 với cấu trúc tích hợp bốn hoạt động: đọc, viết, nói và nghe. Mỗi tập gồm 5 bài học chính, kết thúc bằng phần ôn tập, tự đánh giá, bảng tra cứu từ ngữ và tên riêng. Nội dung tập trung vào văn bản văn học (truyện, thơ, kí), văn bản nghị luận, văn bản thông tin cùng hướng dẫn viết các kiểu văn bản tự sự, biểu cảm, nghị luận và thuyết minh. Sách nhằm phát triển phẩm chất nhân văn và năng lực ngôn ngữ cho học sinh.

1.1. Cấu trúc và nội dung chính

Sách Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều gồm 5 bài học tích hợp đọc, viết, nói và nghe. Mỗi bài học hướng dẫn đọc hiểu một thể loại văn bản cụ thể như truyện ngắn, thơ, kí, nghị luận hoặc văn bản thông tin. Phần tiếng Việt được lồng ghép trong mỗi bài, giúp học sinh nắm vững từ vựng, ngữ pháp và biện pháp tu từ. Cuối sách có phần hướng dẫn học sinh đọc, viết, nói và nghe cùng bảng tra cứu từ ngữ quan trọng. Nội dung được biên soạn theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh.

1.2. Điểm mới so với lớp 6

Khác với lớp 6, Ngữ văn 7 tập 1 yêu cầu học sinh đọc hiểu sâu hơn về thể loại và kiểu văn bản. Nội dung được nâng cao về độ khó và tính trừu tượng, đòi hỏi học sinh vận dụng tư duy phản biện. Các bài viết có yêu cầu cao hơn về cấu trúc và ngôn ngữ biểu đạt. Sách cũng tích hợp nhiều hoạt động thực hành như thảo luận nhóm, thuyết trình, giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác.

II. Phân tích ưu điểm của SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều nổi bật với cách tiếp cận tích hợp bốn kĩ năng ngôn ngữ: đọc, viết, nói, nghe. Nội dung được biên soạn theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, giúp các em hiểu sâu hơn về văn học và đời sống. Các bài học được thiết kế sinh động với nhiều văn bản đa dạng, từ truyện ngắn đến thơ ca, nghị luận. Sách còn tích hợp tiếng Việt và hoạt động thực hành, giúp học sinh rèn luyện toàn diện. Cấu trúc bài học rõ ràng, từ khái niệm đến thực hành, phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh lớp 7.

2.1. Tích hợp bốn kĩ năng ngôn ngữ

Sách Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều không chỉ dạy kiến thức lí thuyết mà còn chú trọng rèn luyện bốn kĩ năng ngôn ngữ: đọc, viết, nói, nghe. Mỗi bài học đều có hoạt động thực hành như viết bài luận, thuyết trình hoặc thảo luận nhóm. Các văn bản đọc hiểu được lựa chọn đa dạng, từ truyện ngắn đến thơ ca, giúp học sinh phát triển khả năng cảm thụ văn học. Hoạt động nói và nghe được thiết kế linh hoạt, khuyến khích học sinh tương tác và chia sẻ ý kiến.

2.2. Nội dung đa dạng và cập nhật

Nội dung sách Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều bao gồm nhiều thể loại văn bản mới mẻ, từ truyện ngắn đến nghị luận xã hội. Các văn bản được chọn lọc kĩ lưỡng, phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh. Sách cũng cập nhật những vấn đề xã hội nóng hổi, giúp học sinh hiểu rõ hơn về đời sống xung quanh. Ngoài ra, sách còn tích hợp nhiều hoạt động thực hành, giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế.

III. Phương pháp học hiệu quả với SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

Để học tốt SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều, học sinh nên đọc kĩ từng phần bài học, đặc biệt là văn bản và câu hỏi gợi ý. Việc ghi chép những điều chưa hiểu để trao đổi với thầy cô và bạn bè là cần thiết. Sau mỗi bài học, học sinh nên thực hành các yêu cầu trong phần tự đánh giá để củng cố kiến thức. Kết quả học tập phụ thuộc nhiều vào sự chăm chỉ, đam mê và tính ham học hỏi của mỗi cá nhân. Sách giáo khoa chỉ là công cụ, học sinh cần chủ động khám phá và vận dụng kiến thức.

3.1. Kĩ năng đọc hiểu văn bản

Học sinh nên đọc kĩ văn bản trước khi trả lời câu hỏi. Việc tìm hiểu ngữ cảnh, tác giả và thể loại giúp hiểu sâu hơn nội dung văn bản. Ghi chép những chi tiết quan trọng và suy ngẫm về thông điệp tác giả muốn truyền tải. Đối với thơ ca, học sinh cần chú ý đến nhịp điệu, biện pháp tu từ và cảm xúc của tác giả. Việc đọc hiểu không chỉ dừng lại ở hiểu nghĩa đen mà còn phải khai thác tầng nghĩa sâu hơn.

3.2. Luyện tập viết và thuyết trình

Sau khi đọc hiểu, học sinh nên luyện tập viết các kiểu văn bản như tự sự, biểu cảm hay nghị luận. Việc sử dụng từ ngữ phong phú, cấu trúc câu rõ ràng giúp bài viết mạch lạc. Ngoài ra, học sinh nên tham gia các hoạt động nói và nghe như thuyết trình, thảo luận nhóm. Những hoạt động này giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp và rèn luyện khả năng tư duy phản biện.

IV. Kết luận và ứng dụng SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều

SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều là tài liệu quan trọng giúp học sinh phát triển toàn diện về ngôn ngữ và tư duy. Sách không chỉ cung cấp kiến thức lí thuyết mà còn rèn luyện kĩ năng thực hành. Nội dung đa dạng, cập nhật giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn học và đời sống. Để đạt hiệu quả cao, học sinh cần chủ động học tập, ghi chép và thực hành thường xuyên. Kết quả học tập phụ thuộc vào sự nỗ lực của mỗi cá nhân, sách giáo khoa chỉ là công cụ hỗ trợ.

4.1. Tầm quan trọng của sách giáo khoa

SGK Ngữ văn 7 tập 1 Cánh Diều là tài liệu cơ bản giúp học sinh nắm vững kiến thức ngôn ngữ và văn học. Sách cung cấp hệ thống bài học tích hợp, từ đọc hiểu đến thực hành viết và nói. Nội dung được biên soạn theo chuẩn giáo dục, giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực. Sách cũng là công cụ quan trọng trong quá trình giảng dạy của giáo viên, định hướng nội dung học tập cho học sinh.

4.2. Ứng dụng kiến thức vào thực tế

Học sinh có thể ứng dụng kiến thức từ SGK Ngữ văn 7 tập 1 vào giao tiếp hàng ngày, viết lách hoặc thuyết trình. Những kĩ năng đọc hiểu, viết và nói giúp học sinh tự tin hơn trong học tập và cuộc sống. Sách cũng khuyến khích học sinh suy ngẫm về các vấn đề xã hội, từ đó hình thành quan điểm cá nhân. Việc vận dụng kiến thức vào thực tế giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ và tâm hồn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Sgk ngu van 7 tap 1 canh dieu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng được kể theo lời câu bé An (ngôi thứ nhất, xưng "tôi"), kể lại những gì cậu bé đã. chứng kiến khi gặp chú Võ Tòng ở căn lêu giữa rừng U Minh. Nhưng khi muốn nói vẻ cuộc đời trước đây của Võ Tòng thì tác giả không thể kể theo lời cậu bé An được nữa. mà phải chuyển sang kể theo ngôi thứ ba, bắt đầu bằng câu: “Không ai biết tên thật của gã! là gi.

Đến phần cuối đoạn trích, tác giả lại chuyển về kể theo ngôi thứ nhất: *Chú Võ Tòng vẫn ngồi đó, đối diện với tía nuôi tôi, bên bếp lửa. Ngôn ngữ các vùng miền Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam, vừa có tính thống nhất cao, vừa có tính đa dạng. Tính đa dạng của tiếng Việt thể hiện chủ yếu ở các mặt ngữ âm và từ vựng: — Về mặt ngữ âm: Một từ ngữ có thể được phát âm không giống nhau ở các vùng miễn khác nhau. Ví dụ, mặc dù cùng viết fa ra nhưng người ở phần lớn các tỉnh miễn Bắc phát âm giống nhự đa, còn người miễn Trung và miễn Nam phát âm là z4; cùng.

viết là vui nhưng người miền Nam phát ảm giống như đưi, còn người miền Bắc và miền Trung phát âm là vui. — Về mặt từ vựng: Các vùng miền kháe nhau đều có những từ ngữ mang tính địa. Ví dụ: £ñáy, ử (từ dùng ở một số tỉnh miễn Bắc); bọ, ma (từ dùng ở một số tỉnh miễn Trung, tiêu biểu là Quảng Bình); tía, má (từ dùng ở nhiều tỉnh miền Nam) được dùng để gọi cha, me. Trong tác phẩm văn học, việc sử dụng một số từ ngữ địa phương phản ánh cách nói của nhân vật ở một địa phương nhất định; đồng thời, tạo sắc thái thân mật, gắn gũi, phù hợp với bối cảnh mà tác phẩm miêu tả.

Tuy nhiên, việc sử dụng từ ngữ địa phương cũng cần có chừng mực; nếu không, sẽ gây khó khăn cho người đọc và hạn chế sự phổ biến của tac phẩm. (1) Gà (từ cũ: từ dùng để chỉ một người đàn ông nào đó, với ý suỗng sã, thân mật, ở đây chỉ Võ Tòng, Efren eu hey {1\ Người đàn ông cô độc giữa rừng? (Trích tiêu thuyết Đết rừng phương Nam) ĐOÀN GIỎI chuẩn bị ~ Xem lại p Kiến thức ngữ văn đề vận dụng vào đọc hiển văn bản này.! n3 — Khi đọc truyện, các em cần chú ý:”*”) + Tóm tắt nội dung văn bản (Truyện kế lại sự kiện gì? Xây ra trong bối cảnh nào?). + Nhân vật chính 1a ai? Nhan vg Ay được nhà văn thể hiện qua những phương điện nào? + Truyện kế theo ngôi kể nảo? Nếu có sự thay déi ngôi kể thì tác dụng của việc thay đổi ấy là gi? + Truyện giúp em hiểu biết thêm những gì vả tác động — Đoàn Giỏi(1925- 1939), đến tỉnh cảm của em như thế nào? qué ở Tiên Giang ~ Đọc trước đoạn trích Ägười đàn ông có độc giữa rừng; tìm hiểu thêm những thông tin về tác phẩm Đất rừng phương Nam và nhà văn Đoàn Giỏi ~ Đọc đoạn tóm tắt sau để hiểu bối cảnh của đoạn trích: Dét rừng phương Naiụ là tiều thuyết của nhà văn Đoàn Giỏi, viết về cuộc đời phiêu bạt của cậu bé An. An theo cha mẹ chạy giặc Pháp hết vùng này tới vùng khác của miễn Tây Nam Bộ rồi lạc mất gia dình, trở thành cậu bé lang thang.

Trong lúc lưu lạc, em đá dược. ấp và trở thành con nuôi gia đình ông Hai bá anh em với thẳng Cò bạn với chủ Võ Tòng. Đoạn trích Người đàn ông có độc giữa rừng kề lại việc tía nuôi dit An di thăm chú Võ Tông. © bọc hiểu 2" Chắc tôi ngủ một giấc lâu lắm thì phải.

Khi tôi mở mắt ra, thấy xuồng" buộc lên một gốc cây trảm. Không biết tía nuôi tôi đi đâu. Nghe có tiếng người nói chuyện {®*) Nguyên văn: Trong lầu người dần ông cô độc giữa rừng, (%9), Œ**) Khi đọchiểu các văn bản khác trong Bài 1, học sinh cần vận dụng các gợi ý ở đây (5 6 cde văn bản, dé hye sinh tiện theo dồi, người biên soạn sách thường đánh số thứ lự dùng thy hoặc cha phẩn các văn bản. {1) Xuông: thuyền nhỏ, không có mái chẹ.

ti rằm bên bờ. "A! Thể thì đến nhà chú Võ Tòng rồi! Tôi ngôi đậy, dụi mắt trông lên. Ánh lửa bếp từ trong mộ Tiếng kêu và hình ảnh ngôi lêu chiều qua khung cửa mmở, soi rõ hình những khúc của con vượn bạc má gỗ xếp thành bậc thang dài xuống bến. Tôi bước ra khỏi trong phần -Ï` gợi ra cảm xuống, lần theo bậc gỗ mò lên.

Bỗng nghe con vượn bạc giác về một bối cảnh như thé nao?) má kêu “chế. ét” trong lêu, vả tiếng chú Vỏ Tòng nói: “Thằng bé của anh nó lên đấy!"”. — Vào đây, An! ~ Tía nuôi tôi gọi. Tôi bước qua mây bậc gỗ trơn tuôt và dùng lại chỗ cửa.

Con vượn bạc má ngồi véo trên một thanh xà ngang, nhe rang doa tôi. Tía nuôi tôi và chú Võ Tòng ngồi trên hai gộc cây"". Trước mặt hai người, chỗ giữa lều, có dặt một cái bếp cả rằng”! lửa cháy ru riu, trên cả ràng bắc một chiếc nồi đất đây vung kín mít. Chai rượu đã vơi và một đĩa khô!? nướng còn bảy trên nễn đất ngay dưới chân chủ và khách, bên cạnh hai chiếc nỏ'" gác chéo lên nhau.

Ø› — Ngỗi xuống đây, chú em! Những chỉ tiết vẻ nhà Chú Võ Tòng đứng dậy, lôi một gộc cây trong tối đặt cửa, cách ăn mặc và tiếp khách. gợi lên ấn bên bếp lửa. Chú cởi trằn, mặc chiếc quần ka kỉ còn mới, tượng gì về nhân vật chú nhưng coi bộ đã lâu không giặt (chiếc quản lính Pháp có Võ Tòng? (*) Các câu hỏi gợi ý ở bên phải văn bản chỉ đề học sinh theo dõi thêm về nội đung, nghệ thuật, trong khi đọc, không cần trả lời (1) Góc cây: phân gốc TẾ của một cây to, thưởng là cây giả cỗi sau khi đã bị chật đi (2) Cà ràng: một loại bếp lò làm băng đất nung của người Khmer Nam Bộ, đun bằng củi. (3) Kbó: thịt được phơi khô để cất giữ lâu.

thường đem nướng trước khi ăn. (4) Nó: một loại vũ khí hình cái cung. có cán để cảm và có lẫy, bật dây căng để bắn lên. Bên hông, chủ đeo lùng lăng một lưỡi lẽ nằm gọn trong vỏ sắt, đúng như lời má nuôi tôi đã tà.

Lại còn thắt cái xanh-tuya-rông”! nữa chứ! Toi không sợ chú Võ Tòng như cái đêm đã gặp chủ lân đầu tiên ở bờ sông, mà lại còn cỏ đôi chút cảm tình xen lẫn với ngạc nhiên hơi buổn cười thế nảo ấy. Tía nuôi tôi ngó tôi, cười cười nhắc cái tấu” thuốc lá ở miệng ra. — Ngủ đẩy giấc rồi à? Tía thấy con ngủ say, tía không gọi. Thôi, đã dậy rồi thì ngồi đây chơi! ~ Nhai bậy'" một rniếng khô nai đi, chú em.

Cho đỡ buỗn miệng mà! ~ Chú Võ Tòng nhặt trong lửa ra một thỏi khô nướng to nhất đặt vào tay tôi. Con vượn bạc má lại kéu “che.” ở phía trên đầu tôi. Tôi cử mặc kệ nó, vừa xé miễng thịt khô ướp muối sẻ nướng thơm phức cho vào mềm nhai, vừa đưa mắt nhìn quanh ngôi lễi ùi lông khét xông khói lâu ngày toả ra, cùng với một làn khói gì mùi hăng hắc, màu xanh xanh bay ra từ chiếc nỗi đậy kin vung sôi “ue.” trên bếp cà rằng, khiến tôi có một thứ cảm giác rợn rợn không tả được. Dường như những cái bóng lặng lẽ ngồi bên bếp đây dang sống lùi lại từ cái thời kì loài nguời mới tìm ra lửa vậy, ® Khôngai biết (én tha của gã Bi.

Mu i may năm về sen in truớc, gã một mình bơi một chiếc xuống nát đến che lễu. chuyên đổi ngôi kể ở giữa khu rừng đầy thú dữ nảy. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng không có. Hồi rừng này còn nhiều hỗ lắm.] Một buổi trưa, gã đang ngủ trong lều, có con hỗ chúa mo vao, từ ngoài sân phóng một cái phú lên người gã.

Bất thần gã tỉnh dậy. Gã vớ luôn cái mác”' bên người, cũng không kịp ngồi dây nữa, cứ nằm ngửa thế mà xóc mũi mắc lên đầm thẳng một nhát vào hàm dưới con hỗ chúa, hai chângã da thốc lên bụng nó, không cho con ác thú kịp cnuyên vg Tòng đánh chụp xuống người, Con hỗ chúa lộn vòng, rơi xuống đi hồ hề mở điều gì về tính Lưỡi mác đâm từ hàm đưới thấu lên tận 4 làm nó không cách, cuộc đời nhãn vật? há họng được, nhưng vẫn còn cỗ vớt cái tắt cuối củng, lại trên mặt gã một hàng sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ. biết có phải do đầy mà gã mang tên °Võ Tòng” hay không? Chứ theo như một vài (1) Zưỡi l¿: bộ phận gắn trên đầu súng, có đầu nhọn, dùng đề đâm, (2) Xonl-trvacrông thống Pháp: cciniron); dây thất lưng (3) Tiếu: dụng cụ đề hút thụ (4) Xhai bậy: nhai (ăn) một cách thoải mái, không cần suy nghĩ gì hoặc ăn tạm cho vui (cách nói khiêm tốn, thân mật của người Nam Bội, (6) Ađác: vũ khí thời xưa, có cán, lưỡi dãi và to, mũi nhọn. ông lão da su“, thì ngày xua, gã là một chàng trai hiễn lành, ở tận một vùng xa lắm.

Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai. Vợ gà là một người đàn bà trông cũng xinh mắt, Chị ấy, lúc có chữa đứa đầu lòng, cử kêu thèm ăn măng, Gã đàn ông hiển lãnh, quý vợ rất mực ấy bèn liều xách dao đến bụi tre đình lảng xắn một mụt măng”!, Khi về qua ngang bờ tre nhà tên đi: chủ”, tên này. ất gã bò mut ming xuống: và vụ cho. gã lẫy trộm măng tre của hắn.

Gã một mực cải lại, nhưng tên địa chủ quyền thế nhật xã ấy cứ vung ba toong đánh lên đầu gã. “Đánh đâu thì còn nhịn được, chứ đánh lên đầu là nơi thờ phụng ông bà. thì số máy tới rồi!”. Lưỡi dao trên tay gã không cho phép tên địa chủ ngang ngược kia giơ tay đánh ba toong lên đầu gã đến cái thứ hai.

Nhát Liên hệ hành ví chống đao chém trả vào mặt đã gí tên bóc lột và hồng hách này trả lên địa chủ ngang š gục xuống vũng nằm Ee máu.xa Nhưng gãees không trến chạy. ngược của Võ vớiTôngviệc đánh hỗ Gi dường hoàng xách dao đến ném trước nhà việc!9, bỏ tay chịu tội. Sau mười năm tù đày, gã trở về làng cũ thi nghe tin vợ đã làm lẽ tên địa chủ kia, va đứa con trai độc nhất mà gã chưa biết mật thì đã chết từ khi gã còn ngôi trong khám! lạnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ