phần mở đầu, kết luận, danh lục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và dịch vụ thông tin thƣ viện tại Trƣờng Đại học Trần Quốc Tuấn. Chƣơng 2: Thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thƣ viện tại Trƣờng Đại học Trần Quốc Tuấn. Chƣơng 3: Các giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ thông tin-thƣ viện tại Trƣờng Đại học Trần Quốc Tuấn.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƢ VIỆN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC TRẦN QUỐC TUẤN. Lý luận chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin thƣ viện.1 Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện. + Khái niệm sản phẩm thông tin-thư viện Sản phẩm (SP) là khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trƣớc tiên và chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động thực tiễn của nền sản xuất. Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, SP là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình, SP có thể là vật chất (ví dụ, các bộ phận lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến), hoặc phi vật chất (ví dụ, thông tin, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng), SP có thể đƣợc làm ra có chủ định (vd.
để dành cho khách hàng), hoặc không đƣợc chủ định (vd. chất ô nhiễm hoặc kết quả không mong muốn). SP là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đƣa ra chào bán trên thị trƣờng với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng. Sản phẩm thông tin (SPTT) có những điểm khác biệt với những sản phẩm thông thƣờng và cũng đƣợc hiểu nhƣ một loại hàng hóa đặc biệt.
Giá cả của SPTT = giá của vật mang tin + giá trị của thông tin. SPTT đƣợc hình thành nhằm thoả mãn những nhu cầu thông tin bao gồm: nhu cầu tra cứu thông tin và nhu cầu về chính bản thân thông tin. Nhƣ vậy, SPTT phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu của ngƣời dùng tin cũng nhƣ sự biến đổi của nhu cầu tin của họ. Quá trình lao động để tạo ra SPTT chính là quá trình xử lý thông tin bao gồm: Biên mục, phân loại, định từ khoá, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng luận cũng nhƣ các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin.
Ngƣời thực 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện quá trình xử lý thông tin có thể là các chuyên gia làm việc tại một cơ quan, tổ chức có chức năng cung cấp thông tin. Mức độ thoả mãn nhu cầu ở những SP khác nhau cũng rất khác nhau. Ví dụ: các SP thông tin - thƣ mục (TT-TM) có khả năng thoả mãn những nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu. Còn các SPTT dạng dữ kiện, toàn văn, tổng thuật có khả năng thoả mãn nhu cầu về chính bản thân thông tin.
Nhƣ vậy, ta có thể hiểu “SPTT là kết quả hữu hình của hoạt động xử lý thông tin (bao gồm biên mục, phân loại, định từ khoá, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng luận,.) do một cá nhân hay tập thể nào đó thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu tin của người dùng tin khi sử dụng các cơ quan thông tin” [23, tr. 21) Một thực tế khách quan hiện nay các cơ quan thông tin đang phải đƣơng đầu với điều kiện phục vụ ngƣời dùng tin ngày càng khắt khe hơn vì các tác động sau: - Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN) làm nảy sinh những nhu cầu mới; - Sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của ngƣời dùng tin với các loại sản phẩm thông tin đƣợc chuyển tải qua các phƣơng thức khác nhau; - Khả năng thay thế nhau của các loại sản phẩm. Một cơ quan thông tin cần phải đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng xã hội thông qua sản phẩm của nó. Sản phẩm thông tin-thƣ viện (SPTTTV) đƣợc hình thành do nhu cầu trao đổi thông tin trong xã hội.
Cùng với các tổ chức thông tin, SP&DVTT có quá trình phát triển lâu dài. Khởi đầu chúng chỉ là những loại hình đơn giản nhƣng cùng với sự thay đổi của thời gian và sự phát triển của xã hội, SP&DVTT ngày càng đƣợc phát triển ở mức độ cao hơn theo hƣớng để 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngày càng thoả mãn đầy đủ hơn yêu cầu của ngƣời dùng tin. Nhƣng phải đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sự phát triển có tính đột phá của các lĩnh vực nhƣ: kĩ thuật số, kĩ thuật vi xử lí, công nghệ truyền thông đa phƣơng tiện đã mở rộng khả năng vô tận trong việc đáp ứng các nhu cầu trao đổi thông tin cũng nhƣ việc tạo ra các SP&DVTT mới. SP&DVTT- một mặt là kết quả của quá trình xử lý trí tuệ các mảng khối thông tin và kiến thức có ở trong các nguồn tin, mặt khác lại tạo điều kiện cho việc sử dụng tiếp theo khi chế tạo một loại hàng hoá (vật chất) cụ thể hoặc sự khởi động một quá trình làm việc cụ thể khác.
SP&DVTT đƣợc con ngƣời tạo nên và luôn đƣợc định hƣớng để thoả mãn nhu cầu tin và các nhu cầu tinh thần, trí tuệ của con ngƣời. + Dịch vụ thông tin - thư viện Thực tế khái niệm dịch vụ cho đến chƣa có một định nghĩa thống nhất vì tính vô hình và khó nắm bắt của nó. Có thể hiểu dịch vụ luôn mang lại tiện ích nhằm thỏa mãn nhu cầu cho mọi đối tƣợng trong cộng đồng. Khác với sản phẩm, các loại dịch vụ là cái mà chúng ta không thể nhìn thấy, nắm bắt hay nhận diện bằng các giác quan.
Dịch vụ luôn gắn với ngƣời cung cấp dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ phụ thuộc chất chẽ vào từng cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng.), chất lƣợng dịch vụ rất khó xác định (tính không xác định) ngay cả nhiều khi đối với cùng một cá nhân thực hiện nhƣng chất lƣợng có sự thay đổi theo thời gian. Chính vì vậy thuật ngữ dịch vụ là một thuật ngữ đƣợc sử dụng trƣớc tiên và chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động của nhiều lĩnh vực xã hội. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, "Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Do nhu cầu rất đa dạng tuỳ theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dƣới hình thức những dịch vụ gia đình.
Những dịch vụ tinh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi tài năng đặc biệt (hoạt động nghiên cứu, môi giới về quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt cộng đồng (sức khỏe, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở v.v… Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động chặt chẽ lẫn nhau. Dịch vụ là một điều kiện để sản xuất kinh doanh. Sự phát triển dịch vụ hợp lý, có chất lƣợng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh. Do ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng, có vị trí to lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia có tốc độ phát triển cao".761] Trong Đại Từ điển tiếng Việt: "Dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo quần chúng" [29, tr.
Tƣơng tự khái niệm về sản phẩm, thuật ngữ dịch vụ đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động. Trong lĩnh vực thông tin, dịch vụ thông tin – thƣ viện bao gồm những công việc mang tính chuyên môn hóa và khi thực hiện cần phải sử dụng (tạm thời hoặc phối hợp) một số tài sản hoặc một số sản phẩm nào đó. Từ những phân tích trên, có thể hiểu “dịch vụ thông tin - thƣ viện là những hoạt động của các cơ quan thông tin - thƣ viện nhằm thỏa mãn nhu cầu tin và trao đổi thông tin của ngƣời dùng tin” [ 23, tr. Theo từ điển giải nghĩa Thƣ viện học và tin học Anh – Việt: “ Dịch vụ thư viện ( library servicce) là một từ chung dùng để chỉ tất cả các hoạt động cũng như những chương trình được thư viện cung cấp để đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng độc giả…”; “ Dịch vụ thông tin (information service) là dịch vụ cá nhân trực tiếp do nhân viên của ban 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tham khảo của thư viện cung cấp cho độc giả trong tiến trình truy tìm thông tin của họ” [23, tr.
Dịch vụ thông tin – thƣ viện có mối quan hệ chặt chẽ giữa ngƣời dùng tin và cán bộ thƣ viện. Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thƣ viện triển khai các dịch vụ, ngƣợc lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thƣ viện tạo ra NDT đƣợc thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình. Dịch vụ TT - TV có thể chia thành các nhóm cơ bản nhƣ: dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ trao đổi thông tin, dịch vụ phổ biến thông tin, dịch vụ tra cứu tin… Mục tiêu quan trọng nhất của DVTT-TV là giúp cho các cơ quan thông tin – thƣ viện nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin và giúp NDT tiếp cận, sử dụng có hiệu quả thông tin vào hoạt động của mình. Đặc điểm sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện Đặc điểm Sản phẩm thông tin thư viện - SPTT-TV có chu kỳ sống: Mỗi loại sản phẩm thông tin có một chu kỳ sống.
Chúng tăng trƣởng, suy giảm, và cuối cùng đƣợc thay thế. - Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trƣởng: Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đợt sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành nhƣ một triết lý. Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin- phát triển hiện nay là những cơ quan có chiến lƣợc định trƣớc cho mình những sản phẩm mới. Sự lựa chọn sử dụng thông tin giá trị gia tăng: Trong những năm gần đây, ngƣời dùng tin có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn.
Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của các phƣơng tiện truyền thông và Internet. ngƣời dùng tin có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế không gian và thời gian. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.